Liệu kinh tế Việt Nam đang phục hồi sau COVID-19?

Thứ Tư, 20/1/2021| 16:41

Theo báo cáo cập nhật Triển vọng phát triển châu Á 2020 được ADB công bố mới đây, GDP của Việt Nam tăng 2,91% vào năm 2020 và mặc dù thấp hơn so với những năm gần đây nhưng đây là một thành tựu đáng kể khi bối cảnh nền kinh tế nhiều nước trong khu vực đang rơi tự do.

Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách phải cân nhắc xem liệu nền kinh tế có cần được kích thích thêm hay không. Dựa trên các biện pháp thông thường, có lẽ là không. Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) dự báo nền kinh tế dự kiến sẽ phục hồi mạnh mẽ vào năm 2021 với mức tăng trưởng 6,1%, so với tốc độ tăng trưởng gần đây của Việt Nam. Theo báo cáo của Tổng cục Thống kê thì tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức thấp, khoảng 2,5% vào tháng 9 năm 2020, cho thấy thị trường lao động dường như vẫn mạnh.

Liệu kinh tế Việt Nam đang phục hồi sau COVID-19?

 

Mặc dù vậy, các chỉ số truyền thống như GDP và tỷ lệ thất nghiệp có thể không bao quát được hết, thậm chí góp phần vào sự bất bình đẳng. Nếu bức tranh tổng thể là tốt, thì chính phủ có thể chọn từ bỏ hỗ trợ bổ sung khiến cho một số nhóm ngành kinh tế nhất định có thể gặp khó khăn hơn. Để ứng phó với điều đó, một số nhà kinh tế gần đây đã đề xuất cần nhiều số liệu trọng tâm hơn để đo lường sự phục hồi. 

Ví dụ, đã có những lời kêu gọi Cục Dự trữ Liên bang ở Mỹ xem xét tỷ lệ thất nghiệp của người Mỹ da đen thay vì xem xét tỷ lệ thất nghiệp chung trong khi hoạch định chính sách tiền tệ. 

Xây dựng chính sách tài khóa và tiền tệ dựa trên nhóm dễ bị tổn thương nhất về kinh tế có khả năng giải quyết sự bất bình đẳng mang tính hệ thống, nhưng làm thế nào khái niệm này lại có thể được du nhập vào một nước có thu nhập trung bình như Việt Nam? Hỏi phụ nữ. Cụ thể hơn, hãy hỏi những phụ nữ sở hữu các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME).

Hãy chia ý tưởng thành các thành phần cấu thành, bắt đầu với năm lý do để tập trung vào các doanh nghiệp nhỏ trong quá trình phục hồi. Thứ nhất, các doanh nghiệp này đại diện cho một khối quan trọng của nền kinh tế. Tính cả các doanh nghiệp siêu nhỏ, chúng chiếm 98% tổng số doanh nghiệp và khoảng một nửa tổng số việc làm. 

Thứ hai, các DNVVN có thể đóng một vai trò quan trọng trong việc phục hồi. Ở các nước thu nhập thấp và trung bình, các doanh nghiệp loại này thường có trách nhiệm cao nhất trong việc tạo công ăn việc làm.

Thứ ba, không giống như các doanh nghiệp siêu nhỏ, họ đã đạt được quy mô vừa phải và do đó có tiềm năng hiệu quả hơn về mặt kinh tế.

Thứ tư, các doanh nghiệp nhỏ có thể thúc đẩy sự đổi mới, thường có tính linh hoạt cao hơn để xoay chuyển so với các doanh nghiệp lớn hơn, kém nhanh nhẹn hơn. Điều này có thể giúp Việt Nam tránh được “bẫy thu nhập trung bình” khét tiếng. 

Cuối cùng, các DNVVN đặc biệt dễ bị tổn thương bởi các cuộc khủng hoảng kinh tế. Họ thiếu nguồn lực tài chính như của các doanh nghiệp lớn hơn và khả năng tiếp cận tài chính của họ bị hạn chế.

Cuộc khủng hoảng này không phải là ngoại lệ. Trong nửa đầu năm 2020, hơn 29.000 doanh nghiệp tạm ngừng hoạt động - tăng 38% so với cùng kỳ năm ngoái và trong khi mức cho vay ở Việt Nam tăng 2,1% từ đầu năm 2020 đến giữa tháng 6, cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ giảm 0,7% so với cùng kỳ.

Hiện nay trong vũ trụ rộng lớn hơn của các DNVVN, các doanh nghiệp do nữ làm chủ thậm chí còn dễ bị tổn thương hơn vì họ gặp nhiều khó khăn hơn trong việc tiếp cận tài chính. Một báo cáo của International Finance Corporation đã xác định vào năm 2017 rằng các doanh nghiệp nhỏ ở Việt Nam do phụ nữ làm chủ phải đối mặt với thiếu hụt tài chính tới 1,2 tỷ đô la và chỉ có 37% trong số các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ đã vay ngân hàng trong hai năm qua, thấp hơn đáng kể so với 47% doanh nghiệp vừa và nhỏ do nam giới làm chủ.

Tương tự, một nghiên cứu năm 2019 của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam cho thấy các doanh nghiệp nhỏ do phụ nữ làm chủ trung bình có thời hạn cho vay ngắn hơn 16% so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ do nam giới làm chủ. Những xu hướng này có thể sẽ gia tăng trong thời kỳ suy thoái khi các ngân hàng thường trở nên thận trọng hơn. Những khác biệt này là sản phẩm của những thành kiến ​​đã được ghi nhận, cả về ý thức và vô thức.

Hơn nữa, chính sách kinh tế chú trọng đến phát triển các doanh nghiệp này không chỉ mang lại lợi ích cho nữ doanh nghiệp mà cho tất cả các thành phần tham gia vào nền kinh tế. 

Rõ ràng, chính sách tiền tệ và tài khóa có thể đã có động lực để tập trung vào các số liệu quan trọng và xem xét các con số thống kê về GDP và tỷ lệ thất nghiệp dựa vào những thành phần kinh tế dễ bị tổn thương trong xã hội. 

Điều này sẽ tạo ra xu hướng về sự hỗ trợ lớn hơn trong thời kỳ suy thoái. Tập trung vào sức khỏe của các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ cũng sẽ cải thiện khả năng phục hồi kinh tế. Phụ nữ có nhiều khả năng làm những công việc dễ bị tổn thương về kinh tế hơn nam giới và khả năng tiếp cận tài chính kém hơn và các doanh nghiệp do họ làm chủ có nguy cơ phá sản cao hơn vì các vấn đề thanh khoản tạm thời hơn là các vấn đề về khả năng thanh toán.

Cuối cùng, điều này sẽ dẫn đến kết quả kinh tế xã hội tốt hơn. Bằng cách đảm bảo rằng vốn được tiếp cận như nhau, đảm bảo dòng chảy của nó đến những doanh nghiệp có tiềm năng tạo ra tăng trưởng và nhiều việc làm nhất.

Các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ cần hỗ trợ nhiều hơn từ các ngân hàng, đặc biệt là trong thời điểm khó khăn về tài chính như thế này. Điều này đang dần xảy ra. Ví dụ, một khoản tài trợ của ADB được tài trợ bởi Sáng kiến ​​Tài chính Doanh nhân Nữ, khuyến khích các ngân hàng cơ cấu lại các khoản vay hiện có cho các doanh nghiệp này bị tổn thương bởi đại dịch COVID-19 và mở rộng khoản vay cho những người đi vay lần đầu. Khoản tài trợ sẽ được giải ngân thông qua Ngân hàng Á Châu, BIDV, Ngân hàng Sài Gòn-Hà Nội, Ngân hàng Tiên Phong và Ngân hàng Việt Nam Thịnh Vượng - tất cả đều đã tình nguyện tham gia chương trình.

Những nỗ lực như thế này sẽ rất hữu ích. Nhưng nếu chính sách kinh tế được chuẩn hóa cho các doanh nghiệp do nữ làm chủ trở thành một công cụ chính sách khả thi, thì cần phải có dữ liệu tốt hơn. Dữ liệu kinh tế ở Việt Nam nhìn chung không được phân tách theo giới tính. Cần phải có và ADB đang làm việc với Bộ Kế hoạch và Đầu tư để lần đầu tiên đưa nó vào cuộc tổng điều tra kinh tế năm 2021.

Hãy thực hiện một bước quan trọng để phá bỏ các rào cản bằng cách biến chúng thành tiêu chí để đưa ra các quyết định kích thích kinh tế.

Donald Lambert, Chuyên gia chính về Phát triển khu vực kinh tế tư nhân của ADB (Thanh Mai dịch)

Top