Việt Nam trông cậy vào phát triển hạ tầng giao thông

Thứ Ba, 11/5/2021| 9:27

Đầu tư vào cơ sở hạ tầng là rất quan trọng nếu Việt Nam vẫn trên đường phát triển thành nước có thu nhập cao.

Cơ sở hạ tầng là chủ đề phổ biến hiện nay, Mỹ đang tranh luận về gói cơ sở hạ tầng nghìn tỷ USD, trong khi Singapore vừa qua thông báo sẽ huy động hàng tỷ USD trên thị trường vốn nhằm củng cố cơ sở hạ tầng quốc gia. Do đó, không có gì ngạc nhiên khi Việt Nam, một trong những nền kinh tế phát triển nhanh nhất thế giới, cũng đang trông cậy vào phát triển cơ sở hạ tầng. Tháng trước, Bộ Giao thông vận tải đã công bố kế hoạch tổng thể về hạ tầng giao thông đến năm 2030. Kế hoạch này trị giá gần 65 tỷ USD, bao gồm việc xây dựng 5.000 km đường cao tốc, 01 cảng nước sâu tại Hải Phòng, các tuyến đường sắt cao tốc chạy dọc tuyến giao thông huyết mạch Bắc - Nam và hoàn thành sân bay quốc tế Long Thành gần Thành phố Hồ Chí Minh. 

Việt Nam trông cậy vào phát triển hạ tầng giao thông

Đầu tư mở rộng hạ tầng giao thông sẽ tạo đà cho phát triển kinh tế, văn hóa và xã hội (ảnh minh họa)

Về cơ bản, kinh tế Việt Nam tăng trưởng nhanh chóng, đồng thời Nhà nước không ngừng nỗ lực để bắt kịp và hỗ trợ cơ sở hạ tầng nhằm duy trì tốc độ phát triển. Kinh tế Việt Nam được kết cấu xung quanh đầu tư, sản xuất và xuất khẩu. Dòng vốn đầu tư đổ vào các khu vực với yếu tố cụ thể như: Nguồn cung lao động lớn, khu vực sản xuất, chế biến hoặc xuất khẩu các sản phẩm đem lại giá trị gia tăng. Mô hình này cũng tương tự như mô hình phát triển đã đưa Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore trở thành quốc gia có thu nhập cao. Tính đến nay, mô hình này đang có hiệu quả với Việt Nam khi quốc gia này đón nhận dòng vốn đầu tư lớn, thu nhập bình quân đầu người tăng nhanh và thặng dư tài khoản vãng lai lành mạnh. 

Điều quan trọng nhất đối với mô hình phát triển này, đặc biệt khi Việt Nam mở rộng quy mô là hạ tầng giao thông có thể đáp ứng khối lượng thương mại gia tăng nhanh chóng. Khi năng lực sản xuất tăng lên, bạn cần kết nối giữa đường bộ và đường sắt tốt để vận chuyển hàng hóa trên cả nước, đồng thời bạn cần sân bay và cảng biển lớn hơn để xử lý lượng hàng xuất nhập khẩu ngày càng tăng. Ví dụ, vừa qua, tập đoàn LG Display (Hàn Quốc) đã đầu tư hơn 03 tỷ USD cho các cơ sở sản xuất tại thành phố Hải Phòng. Đây cũng là lý do việc nâng cao năng lực cảng biển là ưu tiên lớn trong kế hoạch tổng thể đến năm 2030. 

Điều này tất nhiên không có gì mới. Điểm thay đổi ở đây là quy mô và các chiến lược tài trợ. Báo cáo Nghiên cứu Chiến lược giao thông vận tải quốc gia Việt Nam do Chính phủ đặt hàng và công bố năm 2000 khuyến nghị tương tự, tập trung vào phát triển hành lang Bắc - Nam giữa Hà Nội với Thành phố Hồ Chí Minh và mở rộng các cảng vận tải quốc tế. Báo cáo ước tính, tổng chi phí giai đoạn 2000 - 2010 là 12,6 tỷ USD, phần lớn từ vốn ODA. Năm 2010, báo cáo thứ hai được công bố, ước tính chi phí tối thiểu cho cơ sở hạ tầng giao thông quốc gia từ năm 2009 đến năm 2020 là 40,7 tỷ USD. Báo cáo lần này khuyến nghị vai trò lớn hơn của khu vực tư nhân, đồng thời ít phụ thuộc hơn vào vốn hỗ trợ phát triển, phản ánh tình hình kinh tế ngày càng cải thiện của Việt Nam. 

Kế hoạch tổng thể mới nhất ước tính chi phí là 65 tỷ USD, đồng thời tiếp tục thúc đẩy thêm các giải pháp cho lĩnh vực tư nhân. Bộ trưởng Bộ Giao thông vận tải Nguyễn Văn Thể đề xuất "xem xét phương án phát hành trái phiếu chính phủ cho phát triển hạ tầng giao thông, sau đó tập hợp tổng chi phí để trả lại Nhà nước". Điều rõ ràng là khi chi phí và mức độ phức tạp của các dự án cơ sở hạ tầng này ngày càng leo thang, tất cả đều tạo ra nguồn lực kinh tế ngày càng lớn hơn, thì năng lực thể chế Nhà nước để xử lý những nhu cầu này và đối phó với các vấn đề hóc búa như tranh chấp đất đai và nguồn tài chính dài hạn sẽ ngày càng được thử thách./.

Thu Hà

 

Top