Nền kinh tế mà dịch Covid-19 không thể kìm hãm

Thứ Năm, 2/9/2021| 16:01

Từng gây ấn tượng với cả thế giới khi khống chế được dịch Covid-19 trong năm 2020, Việt Nam hiện đang đối phó với đợt bùng phát dịch Covid-19 tồi tệ nhất từ trước đến nay.

Nhiều tỉnh, thành phố đang thực hiện giãn cách xã hội nghiêm ngặt và một loạt nhà máy, từ nhà máy sản xuất giày cho Nike đến nhà máy sản xuất điện thoại thông minh cho Samsung, đều đang giãn công hoặc đóng cửa, làm gián đoạn chuỗi cung ứng toàn cầu.

Tuy nhiên, hội nhập sâu vào chuỗi sản xuất toàn cầu đã và đang giúp kinh tế Việt Nam duy trì trong đại dịch. Năm 2020, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng 2,9% ngay cả khi hầu hết các nền kinh tế khác suy thoái sâu.

Nền kinh tế mà dịch Covid-19 không thể kìm hãm

Dây chuyền sản xuất giày tại Công ty cổ phần giầy Phúc Yên, Vĩnh Phúc. Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN 

Bất chấp đợt bùng phát dịch Covid-19 này, năm nay tốc độ tăng trưởng của Việt Nam vẫn được dự báo có thể cao hơn: Theo dự báo mới nhất của Ngân hàng Thế giới (WB) được công bố vào ngày 24/8, kỳ vọng tăng trưởng năm 2021 ở mức 4,8%.

Thành tích trên cho thấy lý do thực sự Việt Nam gây ấn tượng. Mở cửa với thương mại và đầu tư đã giúp Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng, ở chiều ngược lại, tạo điều kiện cho sự tăng trưởng mạnh mẽ và lâu dài.

Trong 30 năm qua, Việt Nam là 1 trong 5 nước tăng trưởng nhanh nhất thế giới, vượt nhiều nước láng giềng trong khu vực (xem biểu đồ 1). Kỳ tích của Việt Nam có được là nhờ sự tăng trưởng ổn định.

Chính phủ Việt Nam còn cao vọng hơn khi đặt mục tiêu đến năm 2045 trở thành nước có thu nhập cao, tức là tăng trưởng ở mức 7%/năm. Vậy bí quyết thành công của Việt Nam là gì và liệu thành công ấy có thể duy trì không?

Không có lý do nhưng Việt Nam vẫn luôn bị đem so sánh với Trung Quốc những năm 1990 đầu 2000. Cả hai quốc gia cùng thể chế chính trị đều có sự chuyển đổi từ kinh tế kế hoạch tập trung sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, tập trung vào xuất khẩu. Tuy vậy, hai nước cũng có nhiều khác biệt. Ban đầu, kinh tế hướng về xuất khẩu không đủ để mô tả về kinh tế Việt Nam nếu tính đến giá trị hàng hóa nước này bán ra nước ngoài. Thương mại hàng hóa của Việt Nam ra thế giới vượt 200% GDP. Trên thế giới, ngoại trừ các nước giàu tài nguyên hoặc các quốc gia nhỏ có thế mạnh về thương mại hàng hải, chỉ có rất ít quốc gia đạt được mức độ thâm dụng thương mại như thế.

Nền kinh tế mà dịch Covid-19 không thể kìm hãm

Sản xuất lao động tại công ty May Hưng Yên. Ảnh: Phạm Kiên/TTXVN 

Không phải mức xuất khẩu mà đặc tính của các nhà xuất khẩu là yếu tố tạo nên khác biệt giữa Việt Nam và Trung Quốc. Thực tế là, sự kết nối mật thiết với chuỗi cung ứng toàn cầu và mức đầu tư nước ngoài cao khiến Việt Nam giống với Singapore hơn. Kể từ năm 1990, Việt Nam đã tiếp nhận dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài trung bình 6% GDP mỗi năm, gấp hơn hai lần mức toàn cầu – cao hơn so với mức Trung Quốc và Hàn Quốc từng ghi nhận trong cả giai đoạn dài.

Khi phần còn lại của Đông Á tăng trưởng và tăng mức lương, Việt Nam đã hấp dẫn các nhà sản xuất toàn cầu với chi phí lao động thấp và tỷ giá hối đoái ổn định. Điều đó thúc đẩy xuất khẩu bùng nổ.

Trong thập kỷ qua, xuất khẩu của các doanh nghiệp nội địa tăng 137% trong khi xuất khẩu của các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tăng 422% (biểu đồ 2).

Tuy nhiên, khoảng cách gày càng xa giữa các doanh nghiệp nước ngoài và trong nước cũng đặt ra nhiều thách thức với sự phát triển của Việt Nam khi quá bị phụ thuộc vào đầu tư và xuất khẩu của các công ty nước ngoài trong khi các doanh nghiệp trong nước vẫn chưa phát huy hết năng lực.

Các doanh nghiệp nước ngoài có thể tiếp tục tăng trưởng, tạo thêm việc làm và sản lượng nhưng khả năng dẫn dắt kinh tế Việt nam phát triển của các doanh nghiệp nước ngoài là có giới hạn. Việt Nam cần một khu vực dịch vụ năng suất và hiệu quả hơn. Khi mức sống cao hơn, sự hấp dẫn đối với các nhà sản xuất nước ngoài sẽ dần giảm đi, công nhân sẽ cần các cơ hội mới.

Tầm quan trọng của các doanh nghiệp sở hữu nhà nước đang giảm dần (xem biểu đồ 3). Tuy nhiên, khu vực này vẫn có tác động lớn đến nền kinh tế qua các ưu đãi về tín dụng. Các doanh nghiệp nước ngoài lại có thể tiếp cận dễ dàng với các nguồn vốn ngoại, với lãi suất vay trung bình cho trung hạn và dài hạn bằng tiền đồng là 10,25% trong năm ngoái. Một nghiên cứu gần đây do Trường Kinh tế London cho thấy tiền công năng suất sau 5 năm Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới WTO năm 2007 có thể đã tăng 40% nếu không có các doanh nghiệp sở hữu nhà nước.

Để thúc đẩy khu vực tư nhân, chính phủ mong muốn tạo thành cái nôi tạo ra các doanh nghiệp tập đoàn mạnh đa lĩnh vực kiểu như chaebol của Hàn Quốc hay các Keiretsu của Nhật Bản. Nhà nước đang “cố gắng tạo ra các quán quân quốc gia”, theo ông Lê Hồng Hiệp, nghiên cứu viên cao cấp của ViệnISEAS-Yusof Ishak Institute, Singapore đánh giá. VinGroup là một quán quân quốc gia như vậy.

Vừa nuôi dưỡng các quán quân quốc gia vừa mở cửa cho đầu tư nước ngoài không phải điều dễ dàng.

Tuy nhiên, việc trở thành thành viên của Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương cũng như một loạt các thỏa thuận thương mại và đầu tư khác, đồng nghĩa với việc Việt Nam không thể quá ưu đãi cho các nhà sản xuất trong nước./.

Thu Hường dịch

Top