Đào tạo và hỗ trợ nữ doanh nhân tại Việt Nam: Phụ nữ cần và muốn gì?

Thứ Bảy, 31/7/2021| 14:01

Được coi là một trong những quốc gia nghèo nhất thế giới những năm 1980, Việt Nam hiện nay nổi lên như một ngôi sao đang lên ở châu Á với những tiến bộ ấn tượng về kinh tế - xã hội.

Đào tạo và hỗ trợ nữ doanh nhân tại Việt Nam: Phụ nữ cần và muốn gì?

Từ trái qua phải: Bà Ngọc Dung, bà Phương Thảo và bà Thái Hương, 3 nữ doanh nhân của Việt Nam lọt Top 50 Phụ nữ quyền lực nhất châu Á của Forbes. (Nguồn: Bizlive) 

Đến năm 2035, Việt Nam đặt mục tiêu phát triển từ vị thế quốc gia có thu nhập trung bình thấp thành quốc gia có thu nhập trung bình cao, đồng thời trở thành một xã hội thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ. Do nữ giới chiếm một nửa dân số và việc trao quyền kinh tế cho phụ nữ giúp gia tăng lợi ích kinh tế - xã hội, nên việc hình thành nhiều nữ doanh nhân hơn là một phần trọng tâm trong chương trình nghị sự của Chính phủ. Theo Chiến lược quốc gia về bình đẳng giới giai đoạn 2021 - 2030, Chính phủ Việt Nam đặt mục tiêu có nhiều nữ chủ doanh nghiệp hơn trong những năm tới, đạt ít nhất 27% vào năm 2025 và 30% vào năm 2030. 

Thực tế 

03 thập kỷ qua, Việt Nam cho thấy những tín hiệu tiến bộ vững chắc trong việc gia tăng số lượng nữ doanh nhân. Bắt đầu với Luật Doanh nghiệp tư nhân được ban hành năm 1990, luật pháp đã phát triển theo hướng toàn diện và bao trùm giới hơn, với các doanh nghiệp vừa và nhỏ do phụ nữ làm chủ lần đầu tiên được đề cập trong Luật Hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ năm 2017. Theo Chỉ số Mastercard về các nữ doanh nhân năm 2020, Việt Nam đứng thứ hai ở Đông Nam Á và thứ 25 toàn cầu về tỷ lệ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ.

Tuy nhiên, nếu chúng ta xem xét sâu hơn về sự tham gia kinh doanh của nữ giới thì số liệu thống kê không mấy khích lệ. Tỷ lệ doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ vẫn thấp hơn so với mục tiêu đặt ra năm 2020 (26,5 so với 35) và 99% trong số này là các doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, tập trung trong các lĩnh vực năng suất thấp hơn.  Trong bối cảnh kinh tế suy thoái do đại dịch COVID-19, một nửa số doanh nghiệp này đã ngừng hoạt động một phần hoặc tạm thời giải thể. Hơn nữa, tỷ lệ các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ báo cáo sụt giảm doanh thu từ 75% trở lên trong Quý I/2020, gần gấp đôi so với các doanh nghiệp của nam giới. 

Câu hỏi đặt ra là điều gì đang kìm hãm các nữ doanh nhân Việt Nam? Tài liệu cho thấy, các nữ doanh nhân ở Việt Nam phải đối mặt rất nhiều thách thức, bao gồm các chuẩn mực và tín ngưỡng văn hoá - xã hội trọng nam khinh nữ; tiếp cận tài chính hạn chế, thiếu kiến ​​thức về công nghệ thông tin và truyền thông (ICT); thiếu mạng lưới xã hội và cơ hội nâng cao năng lực; quy định mang mang tính phân biệt hoặc thậm chí mù giới. Những thách thức này ảnh hưởng rõ ràng đến khả năng hiện thực hóa tham vọng kinh doanh của nữ giới. 

Hành động 

Thành công của một công ty khởi nghiệp tương quan với sự đầu tư vào kiến thức của người sáng lập. Do đó, giáo dục trở thành cánh cửa mở ra tương lai tươi sáng hơn cho các nữ doanh nhân. Mặc dù thiếu cơ hội tiếp cận với các chương trình đào tạo là trở ngại đáng kể đối với nữ giới, nhưng các loại hình đào tạo và hỗ trợ không đúng có thể là rào cản lớn hơn. Nói cách khác, việc phát triển các chiến lược chính sách và can thiệp phù hợp là nhiệm vụ khó khăn. Một đánh giá về tăng cường năng lực cho các nữ doanh nhân ở Việt Nam được thực hiện năm 2020 cho thấy, các chương trình đào tạo hiện hành không hướng đến nhu cầu, cũng không nhạy cảm giới. 

Nghiên cứu trước đây cho thấy, các chương trình đào tạo có thể thất bại nếu chúng ta không nắm được mong muốn và nhu cầu của người học ngay từ đầu. Điều này đặc biệt đúng đối với đào tạo khởi nghiệp vì nhu cầu và sở thích của người học có thể khác nhau tùy vào giới tính, giai đoạn phát triển kinh doanh và môi trường hoạt động của doanh nhân. Do đó, cần có bằng chứng để hiểu hơn về nhu cầu và sở thích học tập của các nữ doanh nhân Việt Nam để cung cấp thông tin về thực tiễn và các chính sách hỗ trợ cho giáo dục và đào tạo nữ doanh nhân hiệu quả hơn. 

Để lấp đầy khoảng trống này, tôi sẽ dành thời gian với tư cách là Học giả toàn cầu của Echidna tại Brookings để củng cố cơ sở chứng cứ về nhu cầu và sở thích học tập của các nữ doanh nhân Việt Nam - điểm khởi đầu cho quá trình can thiệp và phát triển chính sách. Tôi hy vọng, những phát hiện thu được từ các cuộc phỏng vấn định tính với sự tham gia của một chương trình đào tạo khởi nghiệp của phụ nữ ở Việt Nam và những phụ nữ thành đạt trong kinh doanh, cũng như các chủ thể chính sách nhà nước và phi nhà nước, sẽ hỗ trợ phát triển các chính sách và chương trình đáp ứng giới cho phụ nữ khởi nghiệp ở Việt Nam trong tương lai. Điều này sẽ thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp do phụ nữ làm chủ để đạt được chương trình nghị sự phát triển quốc gia./.

Thu Hà dịch

Top