Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982: 40 năm vẫn vẹn nguyên giá trị

Thứ Ba, 12/4/2022| 8:48

Sau Hiến chương Liên hợp quốc, Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 (UNCLOS) được đánh giá là văn kiện pháp lý quốc tế quan trọng nhất kể từ sau Chiến tranh Thế giới thứ hai. Bốn thập kỷ từ khi ra đời (1982-2022), UNCLOS vẫn giữ vẹn nguyên giá trị và được coi là Hiến pháp của Đại dương.

Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982: 40 năm vẫn vẹn nguyên giá trị 

Trong những năm gần đây, nhiều nước ven biển ở khu vực Đông Á đã củng cố và tăng cường những nỗ lực để thiết lập và duy trì luật lệ và trật tự trên biển trong nỗ lực đảm bảo an ninh quốc gia của mình.

"Hiến pháp của đại dương"

UNCLOS ra đời sau khi kết thúc Hội nghị Liên hợp quốc về Luật Biển lần thứ ba với 11 phiên họp diễn ra từ năm 1973 đến năm 1982.

Vào ngày 10/12/1982, khi UNCLOS được đưa ra để ký kết, một điều chưa từng có là 119 quốc gia đã tham gia ký kết. UNCLOS có hiệu lực từ tháng 11/1994. Hiện 167 quốc gia đã tham gia công ước này, trong đó có 164 quốc gia là thành viên của Liên hợp quốc (LHQ). Ngoài ra, 14 thành viên khác của LHQ đã ký nhưng chưa phê chuẩn UNCLOS.

UNCLOS cung cấp một khuôn khổ pháp lý toàn diện về quản trị đại dương, bao gồm luật tục quốc tế cũng như các khái niệm pháp lý mới. UNCLOS được gọi là "Hiến pháp của đại dương". Công ước thay thế cho các yêu sách và thực tiễn pháp lý riêng rẽ của các quốc gia ven biển bằng cách quy định rõ ràng các giới hạn về lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và thềm lục địa.

Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982: 40 năm vẫn vẹn nguyên giá trịTòa trọng tài ở La Hay tổ chức tranh tụng kín cho vụ kiện của Philippines đối với Trung Quốc liên quan đến yêu sách phi pháp của Trung Quốc về Biển Đông 

UNCLOS là sự thỏa hiệp giữa các quốc gia ven biển và các cường quốc hàng hải. Nhiều quốc gia ven biển từng là các nước thuộc địa và đang phát triển. Tất cả các quốc gia ven biển được trao quyền tài phán chủ quyền đối với các nguồn tài nguyên biển trong các vùng lãnh hải hình thành nên EEZ của các quốc gia này, cũng như đối với hydrocarbon (dầu và khí đốt), khoáng sản và các tài nguyên khác trên thềm lục địa của họ.

Trong khi đó, các cường quốc hàng hải được trao quyền tự do hàng hải trong lãnh hải và EEZ cũng như được quyền quá cảnh qua các eo biển và các tuyến đường biển qua quần đảo. Ví dụ, các tàu dân sự và quân sự được quyền qua lại “không gây hại” qua lãnh hải của các quốc gia ven biển.

Tuy nhiên, các hạn chế đã được đặt ra đối với việc qua lại không gây hại. Việc qua lại phải nhanh chóng, tàu ngầm phải nổi trên mặt nước và treo cờ quốc gia và tàu chiến không được thực hiện một số hoạt động có thể đe dọa quốc gia ven biển.

UNCLOS phản ánh sự đồng thuận của cộng đồng quốc tế rằng các điều ước quốc tế phải bao gồm một cơ chế giải quyết tranh chấp có tính ràng buộc (hoặc bắt buộc) để có thể có hiệu lực thực thi. Công ước cũng cung cấp một khuôn khổ cho việc giải thích và áp dụng công ước để giải quyết các tranh chấp giữa các bên ký kết.

Tuy nhiên, UNCLOS không giải quyết các tranh chấp giữa các quốc gia về chủ quyền hoặc tranh chấp về phân định biển, mà để các quốc gia liên quan tự giải quyết những tranh chấp này. UNCLOS còn là một “thỏa thuận trọn gói”. Các quốc gia ký kết không được phép chọn cho mình các điều khoản mà họ chấp nhận hay không chấp nhận thực hiện.

Tóm lại, UNCLOS đã kết hợp các lợi ích cạnh tranh của đa số các quốc gia, kể cả các quốc gia không giáp biển, trong một khuôn khổ pháp lý toàn diện giải quyết hầu như tất cả các khía cạnh của việc quản lý, quản trị biển và tài nguyên biển.

Những vấn đề đặt ra

Giáo sư Carl Thayer đưa ra một số lưu ý về vai trò cũng như những vấn đề đang đặt ra với UNCLOS.

Thứ nhất, UNCLOS cung cấp một cơ chế hiệu quả để giải quyết hòa bình các tranh chấp trên biển giữa các bên ký kết.

Ví dụ, liên quan đến các tuyên bố của Bangladesh phản đối Ấn Độ vào năm 2009 đối với vùng biển rộng 25.602 km2, vào tháng 7/2014, một Tòa Trọng tài đã ra phán quyết rằng Bangladesh được hưởng 19.467 km2 hay 76% diện tích vùng biển tranh chấp. Diện tích này bao gồm 10 lô dầu ngoài khơi.

Với phán quyết này, Bangladesh có thể thiết lập EEZ rộng 200 hải lý, thềm lục địa mở rộng và tiếp cận trực tiếp với đại dương. Ấn Độ đã chấp nhận phán quyết mà không có khiếu nại. Đây là một mô hình cho thấy các bên tham gia UNCLOS có thể giải quyết các tranh chấp giữa các bên.

Thứ hai, sau khi UNCLOS có hiệu lực, một số quốc gia ven biển đã áp dụng các cách hiểu khác nhau về tự do hàng hải trong các vùng đặc quyền kinh tế của họ.

Một số quốc gia yêu cầu tàu thuyền nước ngoài quá cảnh vùng đặc quyền kinh tế của họ phải thông báo trước, trong khi các nước khác yêu cầu các tàu thuyền này phải xin phép trước. Ngoài ra, một số nước đã đặt ra những hạn chế đối với các cuộc khảo sát quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của họ. Các yêu cầu khác nhau này là một nguyên nhân gây căng thẳng. Vì vậy, ưu tiên hàng đầu đối với các bên ký kết UNCLOS là đạt được các tiêu chuẩn thống nhất.

Thứ ba, là cường quốc hàng hải hàng đầu thế giới, Mỹ đã tích cực tham gia vào Hội nghị LHQ về Luật Biển lần thứ ba nói trên, nhưng chưa phê chuẩn UNCLOS, do công ước này có những điều khoản về khai thác biển sâu.

Cho đến nay, tất cả các thời tổng thống Mỹ, kể từ cựu Tổng thống Ronald Reagan (1981-1989), cũng như các chỉ huy hải quân Mỹ đều tuyên bố ủng hộ luật tục quốc tế và ủng hộ việc Mỹ tuân thủ UNCLOS.

Mỹ tiến hành các hoạt động tự do hàng hải (FONOPS) chính thức để thách thức những yêu sách chủ quyền rộng lớn và những biện pháp hạn chế đi lại mà những quốc gia ven biển đưa ra. Nhưng do chưa phê chuẩn UNCLOS, nên cường quốc này không được tham gia các thủ tục pháp lý liên quan. Ví dụ, yêu cầu của Mỹ được tham gia với tư cách quan sát viên trong vụ Philippines kiện Trung Quốc đã bị khước từ.

Thứ tư, vào tháng 5/2009, Trung Quốc đã chính thức đệ trình bản đồ gọi là "Đường 9 đoạn" mà Bắc Kinh tuyên bố chủ quyền lên Ủy ban Ranh giới thềm lục địa của LHQ và tuyên bố “các quyền lịch sử” đối với một phần lớn Biển Đông. Kể từ đó, đây là nguyên nhân chính gây căng thẳng trên Biển Đông.

Trung Quốc cũng bác bỏ thẩm quyền của Tòa Trọng tài thường trực ở La Haye (Hà Lan), vốn được thành lập theo Phụ lục VII của UNCLOS trong vụ kiện do Philippines khởi xướng. Khi tòa đưa ra phán quyết, Trung Quốc đã bác bỏ và từ chối tuân thủ.

Tòa tuyên bố cái gọi là "Đường 9 đoạn" của Trung Quốc không có cơ sở trong luật pháp quốc tế, đồng thời phán quyết rằng yêu sách của Trung Quốc đối với các quyền lịch sử đã không còn phù hợp với UNCLOS do công ước đã loại bỏ những yêu sách loại này.

Trung Quốc tham gia đầy đủ Hội nghị LHQ về Luật Biển lần thứ ba nói trên. Trung Quốc đã vận động hành lang mạnh mẽ để hội nghị này công nhận vấn đề “quyền lịch sử”, nhưng không thành công. Mặc dù vậy, quốc gia này đã ký và phê chuẩn UNCLOS.

Giáo sư Carl Thayer cho rằng, các hành động của Trung Quốc ở Biển Đông từ năm 2009 đến nay đã phá hoại nghiêm trọng UNCLOS với tư cách là "Hiến pháp của đại dương".

Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982: 40 năm vẫn vẹn nguyên giá trịCông trình phi pháp của Trung Quốc trên đảo Phú Lâm trong quần đảo Hoàng Sa thuộc chủ quyền Việt Nam 

Tình trạng xói mòn luật lệ trên biển

Những nỗ lực này là hệ quả của tình trạng gia tăng các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không báo cáo và không được quản lý, sự gia tăng của các tội phạm tổ chức xuyên quốc gia trên biển, sự bành trướng của các hoạt động và mạng lưới khủng bố trên biển cũng như những những hành động đơn phương tuyên bố chủ quyền lãnh hải mang tính chất ngày càng quyết đoán.

Thông thường, các nước này có cách ứng phó với những tình hình trên theo cơ sở riêng rẽ, thường là triển khai các chương trình hiện đại hóa hàng hải đối với các lực lượng vũ trang quân sự và dân sự, cũng như sửa đổi và thông qua những luật lệ và quy định của mình nhằm kiểm soát điều mà các nước này coi là những hoạt động hàng hải khó giải quyết.

Những hoạt động xâm nhập lãnh hải do các chủ thể nhà nước và phi nhà nước gây ra được coi là những chỉ dấu của tình trạng xói mòn luật lệ trong nước và trật tự trên biển, do đó, những quốc gia bị xâm phạm lãnh hải thường nỗ lực tìm các cách thức ứng phó với tình trạng này mà trước hết nhằm lấy lại quyền và khả năng kiểm soát của mình đối với vùng lãnh hải.

Ở những vùng biển như Biển Đông, cuộc cạnh tranh nhằm giành lại quyền kiểm soát hàng hải đã trở nên ngày càng căng thẳng trong những năm gần đây. Đáng chú ý là việc Trung Quốc mở rộng chức năng của Lực lượng Hải cảnh, coi lực lượng này là một nhân tố không thể thiếu nhằm theo đuổi những tuyên bố chủ quyền lãnh hải rộng lớn ở Biển Đông và Biển Hoa Đông.

Để ứng phó với thách thức này, những quốc gia nhỏ hơn trong khu vực đã mở rộng và hiện đại hóa các lực lượng bảo vệ bờ biển hoặc những lực lượng hải quân và không quân bảo vệ biển của mình.

Những cách thức này giúp các nước nhỏ hơn có thể duy trì khả năng kiểm soát và quyền tài phán đối với vùng lãnh hải của họ theo luật pháp quốc tế. Vì đây là những nỗ lực cơ bản để nâng tầm chủ quyền quốc gia nhằm thiết lập quyền tài phán, nên căng thẳng và mâu thuẫn trở nên khó tránh khỏi, rốt cuộc sẽ trở thành những thách thức đối với trật tự hàng hải.

Không nên bó hẹp đối tượng tiếp cận

Về mặt lý thuyết, luật lệ quốc tế hiện hành, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) có thể cung cấp phần lớn giải pháp đối với những mâu thuẫn và xung đột lợi ích này.

UNCLOS bao gồm những quy định và luật lệ cơ bản để giải quyết những tuyên bố chủ quyền chồng lấn giữa các nước có tranh chấp lãnh hải. Do đó, tồn tại một mối liên hệ trực tiếp giữa việc duy trì và củng cố luật lệ và trật tự hàng hải quốc tế và việc theo đuổi và bảo vệ hệ thống luật lệ vốn được đưa ra trong UNCLOS.

Tuy nhiên, cần có một cách tiếp cận thận trọng giữa việc khích lệ chủ nghĩa đơn phương và thúc đẩy chủ nghĩa đa phương nhằm giải quyết những nguyên nhân cơ bản gây ra tình trạng hỗn loạn và xáo trộn trong quá trình áp dụng và triển khai luật lệ và trật tự hàng hải. Điều cần làm lúc này là phổ biến hệ thống quốc tế hiện nay để thiết lập luật lệ và trật tự hàng hải.

Cho dù xét theo luật lệ và nguyên tắc hay xét theo những hoạt động thực sự trên biển, các quốc gia thường hành động với lý do nhằm bảo vệ lợi ích của người dân trong nước. Vì vậy, các nước này cần nâng cao nhận thức của người dân trong nước về hệ thống luật lệ quốc tế và UNCLOS, để họ hiểu rằng đây là những công cụ để thiết lập một trật tự hàng hải công bằng, hợp lý và có lợi.

Thông thường, giới học giả, chuyên gia và quan chức chính phủ có hiểu biết sâu rộng về những vấn đề liên quan đến hệ thống quốc tế và UNCLOS. Tuy nhiên, công dân của các chính phủ này cũng cần nắm bắt và hiểu biết những hệ thống luật lệ này, nhất là cộng đồng ngư dân của nước đó, để toàn bộ người dân trong nước có thể hiểu được đầy đủ lý do và tác động khi các chính phủ của họ đưa ra những chính sách và hành động vốn được biện minh là đại diện cho người dân.

Cho dù những hoạt động của chính phủ có thể là một cuộc đấu khẩu căng thẳng về mặt ngoại giao hay một cuộc tập trận mang tính hợp tác với các nước khác, thì người dân của họ cần hiểu rõ những lợi ích của việc duy trì hệ thống luật lệ quốc tế hiện hành mà cốt lõi là UNCLOS.

Giới học giả và chuyên gia cần phổ biến những diễn giải của mình đến đông đảo người dân, chứ không nên chỉ bó hẹp đối với giới chức chính phủ và các lực lượng chức trách trên biển.

Quá trình bổ phiến kiến thức và hiểu biết về luật lệ quốc tế đối với người dân cần tiến hành một cách khẩn trương hơn và đòi hòi này có thể thực hiện được, nhất là nhờ khả năng phát tán thông tin hiện nay thông qua các phương tiện truyền thông hiện đại.

Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982: 40 năm vẫn vẹn nguyên giá trịCác nước Đông Á, Đông Nam Á cần triển khai và khai thác những cơ hội đầu tư vào các lĩnh vực giáo dục xã hội, kinh doanh hàng hải và hoạt động “kinh tế xanh” cũng như các nền tảng đa phương tiện truyền thông xã hội và thông thường 

Kế hoạch cụ thể để nâng cao nhận thức cộng đồng

Sự phổ biến của mạng xã hội cùng với sự hiểu biết và khả năng nhạy bén ngày càng gia tăng của người dân đối với những tranh chấp lãnh hải không còn là điều mới mẻ ở khu vực Đông Á. Tuy nhiên, nếu không có sự hướng dẫn và chỉ đạo tích cực với luồng thông tin phù hợp, thì người dân sẽ có xu hướng phát triển quan điểm dân tộc chủ nghĩa hoặc quan điểm thiển cận.

Hệ quả là những người dân này có thể muốn các nước khác thì đơn giản tuân thủ những yêu cầu và quan điểm của họ mà không nhận thức được rằng họ cũng cần phải cân bằng và thỏa hiệp lợi ích theo cách phù hợp với hệ thống luật lệ vốn được thiết lập nhằm đạt được mục đích cân bằng đó.

Nhằm ngăn chặn những xu hướng này, điều cần thiết là đảm bảo rằng các kế hoạch và chương trình nâng cao nhận thức cho người dân cũng cần phải thúc đẩy quan điểm và hiểu biết mang tính quốc tế rộng lớn cho người dân, để họ đóng vai trò là những thành viên của những quốc gia thực sự tồn tại theo một hệ thống luật lệ quốc tế được công nhận.

Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển 1982: 40 năm vẫn vẹn nguyên giá trịQuá trình bổ phiến kiến thức và hiểu biết về luật biển quốc tế đối với người dân cần tiến hành một cách khẩn trương hơn 

Nói cách khác, việc nâng cao nhận thức cộng đồng phải đi kèm với việc trang bị cho họ một thế giới quan mang bản chất quốc tế chủ nghĩa mở rộng. Đây là cách thức để giải quyết xu hướng người dân các nước có thể đi theo quan điểm chủ nghĩa dân tộc và chủ nghĩa đơn phương đối với những vấn đề chung của các quốc gia.

Liên quan đến vấn đề này, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) hiện đang phải nỗ lực đối phó với vấn đề này, nhất là trong kế hoạch xây dựng Cộng đồng ASEAN.

Vì vậy, Australia và Anh cùng với các đối tác cùng chí hướng khác có cơ hội đóng vai trò hỗ trợ nỗ lực phổ biến và quốc tế hóa luật lệ và trật tự hàng hải.

Để thúc đẩy những lợi ích chung trong một hệ thống luật lệ quốc tế công bằng, ổn định và bình đẳng, các nước này cần triển khai và khai thác những cơ hội đầu tư vào các lĩnh vực giáo dục xã hội, kinh doanh hàng hải và hoạt động “kinh tế xanh” cũng như các nền tảng đa phương tiện truyền thông xã hội và thông thường.

Khi đó, những hoạt động này của các nước bên ngoài sẽ góp phần thúc đẩy nỗ lực nhất quán và bền bỉ giữa các quốc gia ven biển nhằm củng cố trật tự hàng hải trong vùng biển thuộc quyền tài phán của họ bằng cách củng cố trật tự quốc tế hiện hành đang ngày càng bị thách thức bởi các hành động đơn phương.

Chắc chắn, các nước nhỏ hơn ở Đông Á cần phải ủng hộ nhiều hơn đối với trật tự luật pháp đa phương và thực tế vốn được UNCLOS và hệ thống luật pháp quốc tế hiện hành đề cập. Do đó, những nỗ lực theo hướng này có thể sẽ được hoan nghênh và sẽ thu hút được nhiều động lực và cổ vũ hơn nữa trong những năm tới.

Việt Nam tiên phong tuân thủ UNCLOS

Việt Nam là một trong những nước trong khu vực đi tiên phong trong việc triển khai thực thi nghiêm túc và hiệu quả nội dung của UNCLOS.

Tại Hội nghị lần thứ 31 Các quốc gia thành viên UNCLOS diễn ra tại trụ sở Liên hợp quốc (LHQ) ở New York, Mỹ tháng 6/2021, Đại sứ Đặng Đình Quý, khi đó là Trưởng Phái đoàn Việt Nam tại LHQ đã nhấn mạnh UNCLOS 1982 là khuôn khổ toàn diện điều chỉnh tất cả các hoạt động trên biển và đại dương, góp phần vào việc bảo đảm an toàn, an ninh, tự do hàng hải, duy trì hoà bình và an ninh quốc tế và thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững.

Việt Nam đã và đang nỗ lực thúc đẩy đàm phán phân định biển với các nước trong khu vực, bảo vệ môi trường biển, hợp tác song phương và đa phương trong duy trì an ninh biển, chống nạn đánh bắt cá bất hợp pháp, không được quy định và không được điều chỉnh, phát triển kinh tế biển.

Liên quan đến tình hình Biển Đông, Đại sứ Đặng Đình Quý nêu rõ Biển Đông là tuyến đường hàng hải quốc tế quan trọng, việc duy trì hoà bình, an ninh, ổn định, an toàn, tự do hàng hải tại Biển Đông có ý nghĩa thiết yếu với hoà bình, phát triển của khu vực và quốc tế.

Đại sứ tái khẳng định mọi tranh chấp phải được giải quyết thông qua các biện pháp hòa bình, trên cơ sở tôn trọng luật pháp quốc tế, trong đó có Hiến chương LHQ và UNCLOS, tôn trọng các tiến trình ngoại giao và pháp lý, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Việt Nam cương quyết phê phán và bác bỏ yêu sách về ranh giới biển theo đường "lưỡi bò" chủ quan, phi lý, do Trung Quốc áp đặt, không dựa vào những tiêu chuẩn của UNCLOS. Điều đáng quan ngại là để hiện thực hóa yêu sách "lưỡi bò" phi lý đó, Trung Quốc hiện đang triển khai nhiều hoạt động vi phạm đến chủ quyền, quyền chủ quyền và quyền tài phán của các quốc gia xung quanh Biển Đông.

Việt Nam cùng các quốc gia trong khu vực và quốc tế đã cực lực phản đối các vi phạm này và kiên trì theo đuổi chủ trương giải quyết mọi bất đồng, tranh chấp bằng biện pháp hòa bình, dựa theo đúng các nguyên tắc của luật pháp và thực tiễn quốc tế, trong đó có UNCLOS./.

(Q.Đ tổng hợp)

Top