Thúc đẩy phục hồi kinh tế và cải cách thể chế sau đại dịch COVID-19: Đề xuất cho Việt Nam

Thứ Năm, 22/4/2021| 16:17

Đại dịch COVID-19 từ đầu năm 2020 đã có những tác động bất lợi, sâu rộng, cả trực tiếp và gián tiếp đối với kinh tế toàn cầu. Đến thời điểm tháng 3/2021, đại dịch vẫn có những diễn biến hết sức khó lường, cho dù nhiều nước đã bắt đầu quá trình phổ biến vắc–xin. Dù vậy, các nước cũng cân nhắc nhiều giải pháp hơn, kể cả những gói kích cầu quy mô lớn chưa từng có tiền tệ, để tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân, kích thích phục hồi kinh tế.

Thúc đẩy phục hồi kinh tế và cải cách thể chế sau đại dịch COVID-19: Đề xuất cho Việt Nam

Một số yêu cầu chính sách quan trọng từ kinh nghiệm ứng xử của nhiều nền kinh tế với đại dịch COVID-19 và phục hồi kinh tế bao gồm: (i) bảo đảm hiệu quả phòng chống dịch COVID-19; (ii) Sản xuất, tiếp cận và phổ biến vắc xin; (ii) đẩy nhanh ứng dụng công nghệ số; (iv) cân nhắc thời điểm thực hiện các biện pháp kích cầu quy mô lớn và dư địa chính sách cần thiết; và (v) thực hiện cải cách thể chế để tăng hiệu quả của các biện pháp hỗ trợ nền kinh tế.

Việt Nam đang bước vào giai đoạn chiến lược 2021-2030 với những mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội mới. Dù phải cân nhắc những kịch bản diễn biến dịch bệnh, Việt Nam cũng cần xây dựng một kế hoạch dài hơi nhằm thúc đẩy phục hồi kinh tế sau khi COVID-19 kết thúc. Chính việc bảo đảm các chính sách phục hồi kinh tế và cải cách thể chế kinh tế song hành và hài hòa có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, dù cũng là một yêu cầu rất thách thức.

Với sự hỗ trợ của Chương trình Australia Hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform) và Đại sứ quán Australia tại Việt Nam, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương tổ chức Hội thảo công bố báo cáo “Thúc đẩy phục hồi kinh tế và cải cách thể chế sau đại dịch COVID-19: Đề xuất cho Việt Nam”. Báo cáo này được thực hiện nhằm (i) phân tích bối cảnh quốc tế và trong nước trước và trong đại dịch COVID-19; (ii) phân tích và đánh giá tác động của COVID-19 tới tình hình kinh tế-xã hội Việt Nam; (iii) phân tích một số yêu cầu về cải cách thể chế nhằm phục hồi và thúc đẩy kinh tế -xã hội sau đại dịch COVID-19; và (iv) xác định định hướng và lộ trình chính sách cho phát triển giai đoạn 2021-2023.

Ngay cả trước đại dịch COVID-19, kinh tế toàn cầu đã chứng kiến những dấu hiệu suy giảm, và đánh giá triển vọng tăng trưởng còn bất định, kể cả ở các nền kinh tế chủ chốt. Hoạt động sản xuất, đầu tư và thương mại toàn cầu bị ảnh hưởng trong bối cảnh gia tăng căng thẳng giữa các nền kinh tế lớn, rủi ro địa chính trị, giá hàng hóa giảm, v.v. Hầu hết các nước đều nhìn nhận yêu cầu tiếp cận Cách mạng Công nghiệp 4.0 và kinh tế số, song không ít quốc gia còn chậm cụ thể hóa thành chính sách trong nước.

Đại dịch COVID-19 bùng phát đã làm trầm trọng thêm những rủi ro trên đối với kinh tế toàn cầu. Ở một mặt khác, đại dịch COVID-19 cũng buộc các nền kinh tế, dù phát triển hay đang phát triển, phải đẩy nhanh những cải cách thể chế, đặc biệt là gắn với tiếp cận Cách mạng Công nghiệp 4.0 và kinh tế số. Mặc dù còn giữ sự thận trọng, tại thời điểm quý I/2021, triển vọng kinh tế thế giới được đánh giá lạc quan hơn so với tại thời điểm nửa đầu năm 2020.

Việt Nam, trước đại dịch COVID-19, vẫn kiên định với các yêu cầu bứt phá và ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách sâu rộng kinh tế vi mô, kiểm soát lạm phát, nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế. Tư duy ban hành chính sách đã có những chuyển biến theo hướng tôn trọng tinh thần tự do kinh doanh, chuyển từ “chọn cho” sang “chọn bỏ” và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật. Việt Nam cũng nhấn mạnh việc tìm kiếm các động lực mới cho tăng trưởng kinh tế. Công tác hội nhập kinh tế quốc tế có nhiều chuyển biến, nổi bật với việc ký kết CPTPP, EVFTA và EVIPA trong năm 2019. Tuy vậy, cải cách và điều hành chính sách vẫn bộc lộ một số hạn chế như: cải cách nền tảng kinh tế vi mô mới chỉ tập trung vào gia nhập thị trường; động lực thực thi vẫn là một vấn đề cần cải thiện.

Thúc đẩy phục hồi kinh tế và cải cách thể chế sau đại dịch COVID-19: Đề xuất cho Việt Nam 

Kể từ đầu năm 2020, Việt Nam cũng đối mặt với hai làn sóng bùng phát của đại dịch COVID-19. Với phản ứng quyết liệt và khá sớm, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia được đánh giá là tương đối thành công trong kiểm soát COVID-19. Công tác chỉ đạo và điều hành của Chính phủ đã thể hiện những bước chuyển phù hợp, linh hoạt, song kiên định với “mục tiêu kép”, vừa quyết liệt phòng chống dịch hiệu quả; vừa tập trung phục hồi và thúc đẩy sản xuất trong nước. Các cải cách về môi trường kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp,…. tiếp tục có sự liền mạch với các năm trước. Các giải pháp hỗ trợ nền kinh tế mới tiếp tục được nghiên cứu, cân nhắc, bên cạnh việc rà soát, điều chỉnh quy định liên quan đến tiếp cận một số gói hỗ trợ trước đó (về tín dụng, thuế, an sinh xã hội, ...).

Với việc tiếp tục kiểm soát tốt dịch bệnh trong những tháng đầu năm 2021, các hoạt động kinh tế-xã hội trong cả nước tiếp tục đà phục hồi. Hoạt động tiêm vắc-xin đã dần được triển khai. Nhiều thảo luận xoay quanh mở lại các đường bay quốc tế, “hộ chiếu vắc-xin”, v.v. được đề cập gần đây nhằm hướng đến mở cửa trở lại nền kinh tế một cách an toàn, hay sự đồng bộ và bền vững của chính sách hỗ trợ phục hồi một số ngành, lĩnh vực quan trọng cũng như tổng thể nền kinh tế.

Ngay trong bối cảnh đại dịch, Việt Nam vẫn chứng kiến những diễn biến khá sôi động về hội nhập kinh tế quốc tế (như phê chuẩn và thực thi EVFTA, EVIPA, UKVFTA hay ký kết RCEP) và những dấu ấn về hoạt động đối ngoại của Việt Nam như vai trò Chủ tịch ASEAN, Chủ tịch AIPA 41 và Ủy viên không thường trực Hội đồng bảo an Liên hợp quốc.

Công tác điều hành của Chính phủ kể từ năm 2020 có những điểm tích cực như: (i) có sự chủ động, có được sự tham gia, đồng thuận cao của cộng đồng doanh nghiệp và người dân; (ii) duy trì sự bài bản, gắn với việc cập nhật và đánh giá các kịch bản tăng trưởng, đặc biệt lưu tâm đến diễn biến đại dịch COVID-19; (iii) giữ được dư địa chính sách để ứng phó với các kịch bản trong tương lai; và (iv) không ngừng tạo dựng thêm không gian mới cho hoạt động kinh tế mới.

Theo đó, Việt Nam có tốc độ tăng GDP đạt 2,91% trong năm 2020, và phục hồi ở mức 4,48% trong Quý I/2021. Các tổ chức quốc tế đều duy trì đánh giá tích cực về kinh tế Việt Nam. Dù còn thấp hơn so với trước đại dịch COVID-19, kết quả tăng trưởng này của Việt Nam cao hơn so với kết quả báo cáo của hầu hết các nền kinh tế trên thế giới, kể cả khu vực Đông Á.

Từ năm 2020, khu vực doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn do chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dịch COVID-19. Tuy số doanh nghiệp thành lập mới trong cả năm 2020 giảm 2,3% so với 2019 nhưng tổng vốn đăng ký tăng 29,2%, cho thấy quy mô của doanh nghiệp gia nhập thị trường có xu hướng tăng lên. Doanh nghiệp cũng có sự thích ứng, cả về tổ chức sản xuất, sử dụng lao động, và ứng dụng các mô hình, cách thức kinh doanh mới (đặc biệt gắn với nền tảng số).

Tổng vốn phát triển toàn xã hội theo giá hiện hành năm 2020 tăng 5,7%, thấp hơn 4,5 điểm phần trăm so với năm 2019. Tỷ trọng đầu tư/GDP năm 2020 đạt 34,4%. Hiệu quả đầu tư tính theo hệ số ICOR sụt giảm đột ngột trong năm 2020, hệ số ICOR tăng tới gần 14,3. Vốn FDI đăng ký đạt 28,5 tỉ USD, giảm 25%; vốn FDI thực hiện đạt 19,98 tỷ USD.

Ngân hàng Nhà nước cũng thực hiện hiệu quả chính sách tiền tệ nhằm góp phần tháo gỡ khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, đồng thời kiên định với yêu cầu ổn định lạm phát. Điều hành chính sách tỷ giá tiếp tục hướng tới ổn định kinh tế vĩ mô, và được giải trình thường xuyên, minh bạch.

Tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế có xu hướng giảm dần, chất lượng tín dụng cải thiện khi dòng vốn tín dụng được tập trung vào các lĩnh vực kinh doanh và sản xuất ưu tiên. Năm 2020, tăng trưởng tín dụng đạt 12,13%, phù hợp với định hướng của Chính phủ và NHNN khi hạ lãi suất cho vay, tập trung tín dụng cho các lĩnh vực kinh doanh và xuất khẩu trong đại dịch COVID-19.

Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam ít nhiều thể hiện sức chống chịu cao hơn trong giai đoạn 2018-2020. Bên cạnh những nỗ lực thích ứng của khu vực doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp trong nước, sức chống chịu tốt hơn của nền kinh tế còn xuất phát một phần từ việc kiên định thực hiện các biện pháp cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh. Độ mở thương mại của Việt Nam giữ xu hướng tăng. Hoạt động thương mại điện tử là điểm sáng trong năm 2020, với doanh số tăng 25%.

Đại dịch COVID-19 đã tác động nặng nề tới nhiều ngành nghề trong xã hội, đặc biệt là du lịch. Tuy vậy, năm 2020 cũng ghi nhận một số ngành sản xuất có tăng trưởng nổi bật như sản xuất thuốc, hóa dược và dược liệu; hay sự phát triển một số ngành nghề mới như dịch vụ số, thương mại điện tử, sản xuất khẩu trang và đồ bảo hộ y tế.

Thúc đẩy phục hồi kinh tế và cải cách thể chế sau đại dịch COVID-19: Đề xuất cho Việt Nam

Đại dịch COVID-19 cũng ảnh hưởng tới các mặt của đời sống xã hội. Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động trong 6 tháng đầu năm 2020 giảm kỷ lục, tỷ lệ thất nghiệp, thiếu việc làm của lực lượng lao động tăng cao. Nhiều lao động bị giảm giờ làm và giảm lương, dẫn đến giảm thu nhập.

Dịch bệnh COVID-19 trên thế giới còn diễn biến phức tạp, khó lường, tác động tiêu cực của dịch bệnh đến các mặt của đời sống kinh tế - xã hội còn tiếp tục kéo dài, chưa thể đánh giá hết. Đặt trong bối cảnh ấy, Báo cáo đưa ra một số cân nhắc về quá trình phục hồi kinh tế và cải cách thể chế kinh tế trong thời gian tới, bao gồm cân nhắc về ổn định kinh tế vĩ mô và phục hồi kinh tế, về cải cách thể chế kinh tế trong nước và hội nhập kinh tế quốc tế, về vai trò của Nhà nước và không gian kinh tế cho khu vực kinh tế tư nhân; và thời điểm tiến hành cải cách cũng được nhìn nhận thấu đáo trong giai đoạn phục hồi tăng trưởng kinh tế sau đại dịch.

Triển vọng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2021-2023 được đánh giá dựa trên 3 kịch bản. Nếu đạt được những đột phá trong chất lượng cải cách thể chế dẫn tới cải thiện chất lượng tăng trưởng song hành với các biện pháp nới lỏng tài khóa và tiền tệ đúng trọng tâm, đúng thời điểm, tốc độ tăng trưởng GDP trung bình có thể đạt tới 6,76%/năm giai đoạn 2021-2023, đi kèm với cải thiện đáng kể về năng suất. Khi ấy, kinh tế Việt Nam sẽ phục hồi tăng trưởng nhanh và bền vững hơn, ngay cả khi kinh tế thế giới còn nhiều bất định.

 

Chương trình Australia hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform) do Bộ Ngoại giao và Thương mại Australia (DFAT) tài trợ sẽ hỗ trợ Chính phủ Việt Nam thực hiện các mục tiêu cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh theo hướng nâng cao năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế hướng tới phát triển nhanh, bền vững. Chương trình được thực hiện trong thời gian 4 năm, từ 2017 đến 2021.

Trong bối cảnh đó, Hội thảo “Thúc đẩy phục hồi kinh tế và cải cách thể chế sau đại dịch COVID-19: Đề xuất cho Việt Nam” nhấn mạnh lại thông điệp phục hồi kinh tế phải song hành với cải cách thể chế kinh tế ở Việt Nam. Những đề xuất định hướng và giải pháp liên quan đến phục hồi kinh tế; cải cách thể chế; độ mở cho hoạt động kinh tế mới; hội nhập kinh tế quốc tế; và phát triển bền vững cũng được cụ thể hóa, cùng với yêu cầu phải thực hiện hài hòa, thống nhất trong thời gian tới. Theo đó, Hội thảo cũng trao đổi về đề xuất lộ trình chính sách cho giai đoạn 2021-2023, cụ thể: (i) tiếp tục phòng chống dịch COVID-19 hiệu quả, tháo gỡ khó khăn cho cộng đồng doanh nghiệp và người lao động, kết hợp với cải cách thể chế kinh tế trong năm 2021; (ii) kết hợp giải pháp phục hồi kinh tế và cải cách thể chế kinh tế trong năm 2022; và (iii) rút dần các giải pháp hỗ trợ phục hồi tăng trưởng kinh tế, tập trung vào cải cách thể chế kinh tế trong năm 2023./.

(Thanh Bùi - Quang Đức)

Top