Truyền thống vẻ vang - Khát vọng hùng cường

 

Ngày 5/9/1945, ba ngày sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trong bức thư gửi các em học sinh, nhân ngày khai trường đầu tiên dưới chế độ mới, Bác Hồ đã nói về khát vọng xây dựng đất nước hùng cường. Bác đã viết: “Dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”.

Trong thời đại ngày nay, dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam và Bác Hồ kính yêu, sự tổ chức của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh, thanh niên Việt Nam đã đứng lên cùng với toàn thể dân tộc làm nên một giai đoạn lịch sử hào hùng với cuộc Cách mạng Tháng Tám lịch sử, lập nên Nhà nước Việt Nam Dân chủ cộng hoà, lần lượt đánh bại đế quốc Pháp và Mỹ, mở ra kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta.

Khi Tổ quốc gọi tên mình, thế hệ trẻ Việt Nam là lực lượng đi đầu xung phong ra trận với tinh thần “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Nhiều phong trào đã trở thành những ngọn đuốc soi đường cho những thế hệ thanh niên Việt Nam xung kích, tình nguyện, xả thân vì độc lập tự do của Tổ quốc. Tinh thần xung kích, tình nguyện ấy tiếp tục được trao truyền, tiếp nối trong công cuộc tái thiết, xây dựng đất nước, đổi mới và hội nhập.

 Trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và hội nhập quốc tế, vai trò xung kích, tinh thần tình nguyện, sáng tạo của thanh niên tiếp tục được phát huy mạnh mẽ. Trong quá trình đó, phong trào hành động cách mạng của tuổi trẻ dưới sự dẫn dắt và lãnh đạo Trung ương Đoàn đã trở thành một đặc trưng, là phương thức hữu hiệu để Đoàn thực hiện chức năng “trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên”, mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên, thu hút thanh niên rèn luyện, phấn đấu vì mục tiêu, lý tưởng của Đảng, là độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

 

Sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản ở Việt Nam là một dấu mốc lịch sử trọng đại của thế hệ trẻ Việt Nam. Trải qua 90 năm xây dựng, phát triển và trưởng thành, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã khẳng định bản lĩnh cách mạng, lòng trung thành với Đảng, với dân tộc, là lực lượng xung kích cách mạng, là tổ chức hạt nhân chính trị của thanh niên Việt Nam, đội dự bị tin cậy của Đảng, là trường học xã hội chủ nghĩa của thanh niên Việt Nam.

 Sau một thời gian ra đi tìm đường cứu nước, đến với chủ nghĩa Mác - Lênin, Nguyễn Ái Quốc khẳng định: “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc, không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản”. Tháng 6/1925, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc thành lập “Hội Việt Nam Cách mạng thanh niên”, ra Báo Thanh niên, mở nhiều lớp huấn luyện cán bộ để tuyên truyền, phổ biến chủ nghĩa Mác - Lênin, thành lập tổ chức “Thanh niên Cộng sản Đoàn”, đưa nhiều thanh niên ưu tú vào tổ chức để bồi dưỡng”…

 Trong quá trình truyền bá chủ nghĩa Mác-Lênin vào giai cấp công nhân, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc đã dựa vào thanh niên, qua đó, những thanh niên yêu nước được giác ngộ về giai cấp và dân tộc. Họ là lớp người trẻ tuổi có lòng yêu nước, căm thù giặc, hăng hái tham gia cách mạng, nhạy cảm với cái mới và có học thức.

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc tổ chức một nhóm bí mật, gồm 9 người là Lý Thụy, Lê Hồng Sơn, Hồ Tùng Mậu, Lê Hồng Phong, Lê Quảng Đạt, Lâm Đức Thụ, Vương Thúc Oánh, Lưu Quốc Long và Lâm Văn Dĩnh. Nhóm có chương trình và điều lệ. Tất cả phải đọc lời thề tuân theo chương trình, điều lệ và suốt đời hy sinh, phấn đấu cho sự nghiệp cách mạng… Đây là sự kiện đặc biệt quan trọng, mở đầu cho quá trình hình thành và phát triển các tổ chức thanh niên cách mạng theo xu hướng cộng sản cũng như sự ra đời của Đoàn Thanh niên Cộng sản ở nước ta.

Mùa Xuân năm 1930, Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời. Ngay tại Hội nghị Ban Chấp hành T.Ư Đảng lần thứ nhất (tháng 10/1930) đã đặt nền móng cho sự ra đời của Đoàn Thanh niên cộng sản. Hội nghị đã thông qua: “Án nghị quyết về tình hình Đông Dương và nhiệm vụ cần kíp của Đảng”. Đặc biệt là thông qua “Án nghị quyết về Cộng sản thanh niên vận động”.

Trong Án nghị quyết có ghi: “Đảng phải thi hành ngay Án nghị quyết của Quốc tế cộng sản Đoàn và giúp cho Đoàn có tính độc lập…”. “Đảng Cộng sản phải cần kíp công tác trong quần chúng thanh niên, phải lãnh đạo quần chúng thanh niên… Muốn vậy, chỉ có thể tổ chức ra một đoàn thể của thanh niên mới được”.

“Án nghị quyết về Cộng sản thanh niên vận động” là văn kiện nền tảng về lý luận vận động thanh niên đầu tiên của Đảng, đáp ứng kịp thời những đòi hỏi của phong trào yêu nước trong thanh niên đang phát triển và thực sự tạo nên những chuyển biến quan trọng trong sự nghiệp xây dựng tổ chức Đoàn.

Thực hiện Án nghị quyết trên, các cơ sở Đoàn được xây dựng trên hầu hết các địa phương cả nước, nhưng hệ thống tổ chức của Đoàn vẫn chưa được thống nhất và Đoàn chưa có sinh hoạt riêng.

 

Hội nghị Ban Chấp hành T.Ư lần thứ 2 diễn ra tại Sài Gòn (tháng 3/1931) do Tổng Bí thư Trần Phú chủ trì, đã dành nhiều thời gian bàn về công tác xây dựng Đảng và xây dựng Đoàn. Hội nghị đã đề ra nhiệm vụ cần kíp mà Đảng phải làm, trong đó có việc phải nhanh chóng thành lập tổ chức Đoàn: “Lập tức các Đảng bộ địa phương phải mau mau tổ chức những ủy viên tổ chức ra Đoàn, đốc xuất cho chi bộ tổ chức; tổ chức cơ quan báo chương về việc vận động của Đoàn và phải chỉ đạo cho các chi bộ mới thành lập của Đoàn bắt đầu hoạt động trong quần chúng thanh niên...”.

Sau khi có Nghị quyết của Đảng và Chỉ thị của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, các chi bộ đảng ở địa phương đã cử ngay các cấp ủy viên của Đảng phụ trách công tác Đoàn. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, phong trào thanh niên ngày càng lớn mạnh, đã xuất hiện nhiều tổ chức Đoàn cơ sở trên cả 3 miền Bắc, Trung, Nam, một số địa phương đã hình thành hệ thống tổ chức đoàn xã, huyện lên đến tỉnh.

Đến cuối năm 1931, số lượng đoàn viên trong cả nước lên đến khoảng hơn 2.500 đoàn viên. Qua cao trào cách mạng 1930 - 1931, với những đóng góp to lớn của đoàn viên, thanh niên cả nước, Ban Chấp hành Quốc tế thanh niên cộng sản đã công nhận Đoàn Thanh niên cộng sản Đông Dương là một bộ phận của Quốc tế thanh niên cộng sản.

Theo đề nghị của T.Ư Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam, được sự đồng ý của Bộ Chính trị và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ 3 (tháng 3/1961) đã quyết định lấy ngày 26/3/1931 làm ngày kỷ niệm thành lập Đoàn hằng năm.

 Ngay sau khi thành lập, Đoàn TNCS Đông Dương đã phát triển được nhiều đoàn viên trong cao trào cách mạng 1930 - 1931 mà đỉnh cao là Xô - Viết Nghệ Tĩnh. Từ phong trào cách mạng giai đoạn này, đã xuất hiện nhiều gương thanh niên đấu tranh, hy sinh vì Tổ quốc, tiêu biểu là người đoàn viên thanh niên cộng sản Lý Tự Trọng với câu nói nổi tiếng trước tòa án kẻ thù: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”.

Tháng 7/1936, Hội nghị T.Ư Đảng đã đề ra đường lối chuyển hướng nhiệm vụ từ đấu tranh bí mật, bất hợp pháp sang đấu tranh công khai hợp pháp và nửa hợp pháp. Đoàn Thanh niên Dân chủ Đông Dương tiếp nối truyền thống của Đoàn TNCS Đông Dương, tích cực vận động thanh niên đấu tranh chống thực dân, đế quốc, phản động tay sai, đòi tự do, dân chủ, cơm áo, hòa bình.

Tháng 9/1939, chiến tranh thế giới lần thứ II bùng nổ, trong tình hình mới, Tổ chức Đoàn phải chuyển vào hoạt động bí mật và xây dựng tổ chức chặt chẽ với tên mới là Đoàn Thanh niên Phản Đế Đông Dương.

Mùa xuân năm 1941, sau 30 năm hoạt động ở ngước ngoài, Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Tổ quốc trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Tháng 5/1941, Người đã chủ trì Hội nghị T.Ư Đảng lần thứ 8 tại Pác Bó (Cao Bằng). Dưới ánh sáng của Nghị quyết Hội nghị T.Ư Đảng lần thứ 8, Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam ra đời tiếp nối sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc của các tổ chức thanh niên trước đó do Đảng, Bác Hồ tổ chức, giáo dục và rèn luyện.

Dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đoàn Thanh niên Cứu quốc cùng toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta tiến hành Tổng khởi nghĩa giành thắng lợi trong Cách mạng tháng Tám năm 1945, mở ra kỷ nguyên độc lập tự do cho dân tộc, thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (nay là nước Cộng hòa XHCN Việt Nam).

Thực hiện lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chính phủ cách mạng, đoàn viên, thanh niên là lực lượng hăng hái đi đầu trong phong trào chống “giặc đói, giặc dốt và giặc ngoại xâm”.

 

Thế nhưng, thời gian độc lập không được bao lâu, thực dân Pháp quay trở lại xâm lược nước ta một lần nữa, cả dân tộc lại bước vào cuộc kháng chiến trường kỳ đầy gian khổ, hy sinh. Tiêu biểu cho những ngày đầu kháng chiến là tuổi trẻ Sài Gòn - Chợ Lớn đã thành lập các Đội Thanh niên xung phong cảm tử, thanh niên tự vệ kiên quyết đánh trả kẻ thù. Tại Thủ đô Hà Nội trong suốt 60 ngày đêm, nhiều chiến sỹ với tuổi đời còn rất trẻ đã ôm bom ba càng chặn xe tăng giặc ngay trên đường phố...

Tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ I được tổ chức tại Đại Từ, Thái Nguyên (từ ngày 7 đến ngày 14/2/1950) với chủ đề “Chiến đấu và xây dựng tương lai”. Phát huy tinh thần của Đại hội, hàng vạn nam, nữ thanh niên hăng hái xung phong tham gia phục vụ các chiến dịch, phong trào “Tòng quân giết giặc lập công” phát triển khắp mọi nơi.

Sau chín năm trường kỳ kháng chiến, tháng 5/1954, quân và dân ta đã làm nên một Điện Biên Phủ chấn động địa cầu. Trong cuộc trường kỳ kháng chiến ấy đã xuất hiện nhiều tấm gương tuổi trẻ kiên cường, dũng cảm như: Trần Văn Ơn, Võ Thị Sáu, La Văn Cầu, Cù Chính Lan, Nguyễn Thị Chiên, Bế Văn Đàn, Phan Đình Giót, Tô Vĩnh Diện... Họ thật xứng đáng đại diện cho một lớp trẻ “Quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”.

 

Ngày 19/10/1955, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Nghị quyết đổi tên Đoàn Thanh niên Cứu quốc Việt Nam thành Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam.

Tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ II (năm 1956), Bác Hồ đã ân cần căn dặn: “Đảng và Chính phủ ta có thể tự hào đã tạo nên một thế hệ thanh niên dũng cảm như các cháu, và mong các cháu tiếp tục phấn đấu hăng hái cho công cuộc bảo vệ Tổ quốc, xây dựng nước nhà”.

Từ sau Đại hội, tuổi trẻ miền Bắc đã dấy lên phong trào thi đua lao động sản xuất để khôi phục kinh tế, cải tạo và xây dựng xã hội mới. Hàng vạn thanh niên tham gia xây dựng các công trình thủy lợi, khai hoang phục hóa đất đai; hàng triệu thanh niên hăng hái theo học các lớp bổ túc văn hóa...

Ở miền Nam, phong trào đấu tranh chính trị của thanh niên, học sinh, sinh viên tuy bị đế quốc Mỹ và tay sai đàn áp dã man song không hề nao núng. Trong những ngày đồng khởi, các đội “Trung kiên”, “Xung phong” do thanh niên đảm nhận đã được thành lập ở khắp mọi nơi, tiến hành vây đồn, lấy bốt, trừ gian, phá ấp chiến lược...

 

Tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ III (năm 1961), đã phát động phong trào “Xung phong tình nguyện vượt mức kế hoạch 5 năm lần thứ nhất”. Tháng 8/1964, đế quốc Mỹ leo thang gây chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân, tuổi trẻ Thủ đô đã phát động phong trào “Ba sẵn sàng”. Được sự chỉ đạo kịp thời của T.Ư Đoàn, phong trào đã phát triển sâu rộng trong cả nước, ở miền Bắc, hàng triệu đoàn viên, thanh niên đăng ký tham gia phong trào “Ba sẵn sàng” nêu cao quyết tâm chi viện cho chiến trường miền Nam với tinh thần “Chưa thắng giặc Mỹ, chưa về quê hương”.

Tháng 2/1965, Đại hội Đoàn Thanh niên toàn miền Nam đã phát động phong trào “Năm xung phong”, sau một thời gian ngắn, có hàng vạn đoàn viên, thanh niên tham gia phong trào này.

Từ phong trào “Ba sẵn sàng” và “Năm xung phong” đã xuất hiện nhiều tập thể và cá nhân với những chiến công xuất sắc như: 10 cô gái thanh niên xung phong Ngã ba Đồng Lộc (Hà Tĩnh), Bảy dũng sỹ Điện Ngọc (Quảng Nam) anh dũng đánh trả một tiểu đoàn địch; Tạ Thị Kiều tay không đoạt bốt giặc; Lê Thị Hồng Gấm chiến đấu đến hơi thở cuối cùng không chịu đầu hàng giặc; Nguyễn Văn Trỗi “Còn giặc Mỹ thì không có hạnh phúc”; Anh hùng liệt sỹ Nguyễn Viết Xuân “Nhằm thẳng quân thù mà bắn!” đã trở thành hiệu lệnh thúc giục quân và dân ta xông lên tiêu diệt quân thù. Nhân dịp kỷ niệm 40 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, thể theo nguyện vọng của cán bộ, đoàn viên, thanh niên cả nước, Ban Chấp hành T.Ư Đảng đã ra quyết định: Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam được mang tên Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh.

Thắng lợi của Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã làm nên một Đại thắng mùa xuân năm 1975, cả nước thống nhất và đi lên xây dựng CNXH. Trong chiến thắng vĩ đại ấy, có sự đóng góp to lớn của đoàn viên, thanh niên trên khắp các mặt trận. Sau ngày thống nhất nước nhà, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV (1976) đã ra quyết định Đoàn Thanh niên Lao động Hồ Chí Minh mang tên Đoàn TNCS Hồ Chí Minh.

 

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IV (1980) đã quyết định đẩy mạnh hơn nữa phong trào “Ba xung kích” thành cao trào thi đua hành động cách mạng của tuổi trẻ, thực hiện thắng lợi sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Vào thời điểm này, hàng triệu lượt đoàn viên, thanh niên tham gia phong trào “Ba xung kích làm chủ tập thể”; gần 9 triệu đoàn viên, thanh niên tham gia phong trào “Thanh niên xung kích xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”; hàng chục vạn thanh niên gia nhập lực lượng vũ trang, góp phần tích cực bảo vệ vững chắc biên cương Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế.

Tiếp đó là các phong trào “Hành quân theo bước chân những người anh hùng” đã thu hút gần 6 triệu đoàn viên, thanh thiếu nhi tham gia và “Hành quân theo chân Bác” đã có 10 triệu thiếu niên nhi đồng tham gia.

 

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ V (năm 1987) phát động phong trào “Tuổi trẻ xung kích, sáng tạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”. Đến Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VI (1992); tại Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành T.Ư Đoàn khóa VI (tháng 2/1993) đã quyết định triển khai 2 phong trào lớn là: “Thanh niên lập nghiệp” và “Tuổi trẻ giữ nước”.

Tại Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VII (1997) đã quyết định tiếp tục phát triển và nâng hai phong trào trên lên một tầm cao mới. Năm 2000, Bộ Chính trị và Chính phủ quyết định chọn là “Năm thanh niên Việt Nam”. Từ thời điểm này, phong trào “Thanh niên tình nguyện” có bước phát triển mới, đi vào thực tiễn, được đông đảo các cấp bộ Đoàn và đoàn viên, thanh niên tham gia, tạo nên ấn tượng tốt đẹp về lớp thanh niên Việt Nam của thời kỳ mới.

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ VIII (năm 2002) với tinh thần “Đoàn kết, sáng tạo, xung kích, tình nguyện” đã mở ra một trang mới trong lịch sử phát triển của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Đại hội đã phát động phong trào lớn “Thi đua, tình nguyện xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” và kêu gọi tuổi trẻ Việt Nam cùng xiết chặt tay dưới lá cờ vinh quang của Đoàn, nguyện đi theo con đường cách mạng của Đảng, Bác Hồ và Nhân dân ta đã lựa chọn, nắm chắc thời cơ, vượt qua thách thức, góp phần to lớn vào sự nghiệp đổi mới đất nước.

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ IX (năm 2007), tập trung triển khai hai phong trào lớn là “Năm xung kích phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” và “Bốn đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”.

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ X (năm 2012), là Đại hội của khát vọng tuổi trẻ. Đại hội đã quyết định tiếp tục triển khai 2 phong trào “Xung kích, tình nguyện phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc” và “Đồng hành với thanh niên lập thân, lập nghiệp”, tạo không gian mở, sáng tạo cho cơ sở triển khai thực hiện.

 

Trong nhiệm kỳ Đại hội, nhiều phong trào lớn của Đoàn được triển khai mạnh mẽ, thu hút sự tham gia của đông đảo đoàn viên, thanh niên và tạo được hiệu ứng tốt đẹp trong cộng đồng xã hội, như: Phong trào “Tuổi trẻ chung tay xây dựng nông thôn mới”, “Thanh niên tham gia xây dựng văn minh đô thị”, các phong trào học sinh, sinh viên như: “Học sinh 3 rèn luyện”, “Khi tôi 18”, “Sinh viên 5 tốt”; hay phong trào thi đua “3 trách nhiệm”, “Sáng tạo trẻ”...

Nhiều chương trình, cuộc vận động hướng về biển đảo thu hút sự quan tâm, tham gia của tuổi trẻ cả nước như: “Hành trình tuổi trẻ vì biển đảo quê hương”, “Đồng hành với ngư dân trẻ ra khơi”... với nội dung có nhiều đổi mới, sáng tạo đã thu hút được đông đảo thanh niên tham gia, được xã hội ghi nhận, ủng hộ và đánh giá cao.

Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI (năm 2017) khẩu hiệu hành động “Tiên phong - bản lĩnh - đoàn kết - sáng tạo - phát triển”. Tập trung triển khai 3 phong trào hành động cách mạng: “Thanh niên tình nguyện”; “Tuổi trẻ sáng tạo”; “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” trong từng nhóm đối tượng, tiếp tục duy trì các phong trào đặc thù… Toàn Đoàn triển khai 3 chương trình đồng hành với thanh niên: “Đồng hành với thanh niên trong học tập”;“Đồng hành với thanh niên khởi nghiệp, lập nghiệp”; “Đồng hành với thanh niên rèn luyện và phát triển kỹ năng trong cuộc sống, nâng cao thể chất, đời sống văn hóa tinh thần”, góp phần phát triển thanh niên toàn diện, khẳng định vai trò của Đoàn trong bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của thanh niên.

 Trong Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Người viết: "Đoàn viên thanh niên ta nói chung là tốt, mọi việc đều hăng hái xung phong, không ngại khó khăn, có chí tiến thủ. Đảng cần phải chăm lo giáo dục, đào tạo cho họ, đào tạo thành những người thừa kế xây dựng chủ nghĩa xã hội vừa "hồng" vừa "chuyên". Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và cần thiết" (trích Di chúc của Chủ tịch Hồ Chí Minh).

 

Trong cuộc đời hoạt động cách mạng của mình, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn dành những tình cảm tốt đẹp cũng như thời gian, công sức, trí tuệ để giáo dục, bồi dưỡng các thế hệ thanh niên Việt Nam đến với cách mạng, tham gia vào quá trình đấu tranh giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc… Bởi theo Người, thanh niên luôn là lực lượng tiên phong, xung kích trên các mặt trận, góp phần xây dựng hoà bình. Bác rất tin tưởng ở thanh niên - lực lượng hậu bị của Đảng và là lực lượng cách mạng cho đời sau.

Bác luôn nhấn mạnh đến việc học tập, vấn đề cốt lõi để các thế hệ thanh niên trang bị cho mình sự hiểu biết, vốn kiến thức, một trong những điều kiện tiên quyết để đảm bảo cho các thế hệ thanh niên có thể vươn mình ra biển lớn, lấy sức trẻ làm giàu cho Tổ quốc, quê hương.

Dưới đây là một số lời dạy mà lúc sinh thời Bác đã dành cho các thế hệ thanh niên Việt Nam để thấy được những tình cảm sâu sắc, sự quan tâm bồi dưỡng những thế hệ thanh niên của Bác kính yêu.

Hỡi Đông Dương đáng thương hại! Người sẽ chết mất, nếu đám thanh niên già cỗi của Người không sớm hồi sinh”. (trích ‘Thư gửi Thanh niên An Nam’, năm 1925)

“… ngày nay chúng ta phải xây dựng lại cơ đồ mà tổ tiên để lại cho chúng ta, làm sao cho chúng ta theo kịp các nước khác trên toàn cầu. Trong công cuộc kiến thiết đó, nhà nước trông mong chờ đợi ở các em rất nhiều. Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai cùng các cường quốc năm châu được hay không chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”. (trích ‘Thư gửi các em học sinh nhân Ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa’, tháng 9/1945).

“Hỡi anh chị em thanh niên Nam Bộ!
Tôi thề cùng các bạn giữ vững nền độc lập tự do của nước Việt Nam. Dẫu có phải hy sinh đến nửa số dân tộc, ta cũng quyết hy sinh. Cuộc kháng chiến tự vệ chính nghĩa của dân tộc Việt Nam phải toàn thắng”. (trích ‘Lời kêu gọi thanh niên Nam Bộ’, ngày 30/10/1945)

 

“... Một năm khởi đầu từ mùa Xuân. Một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa Xuân của xã hội.

Vậy qua năm mới, các cháu phải xung phong thực hành “đời sống mới”.

 

Đời sống mới là:

- Hăng hái, kiên quyết, không sợ khó, không sợ khổ.

- Phải siêng học, phải siêng làm, phải tiết kiệm.

 

- Việc nên làm (như ủng hộ kháng chiến, tăng gia sản xuất) thì ta không chờ ai nhắc nhủ.

 

- Việc nên tránh (như tự tư tự lợi) thì ta không đợi ai ngăn ngừa”.(trích ‘Thư gửi thanh niên và nhi đồng toàn quốc nhân dịp Tết sắp đến’, tháng 1/1946)

 

“Không có việc gì khó

Chỉ sợ lòng không bền

Đào núi và lấp biển

Quyết chí ắt làm nên”.

(Bài thơ Bác tặng Đơn vị thanh niên xung phong 312 làm đường tại xã Cẩm Giàng, Bạch Thông, Bắc Kạn, ngày 28/3/1951)

“Ưu điểm của thanh niên ta là hăng hái, giàu tinh thần xung phong. Khuyết điểm là ham chuộng hình thức, thiếu thực tế, bệnh cá nhân, bệnh anh hùng. Rất mong toàn thể thanh niên ta ra sức phát triển những ưu điểm và tẩy sạch những khuyết điểm ấy. Huy hiệu của thanh niên ta là “tay cầm cờ đỏ sao vàng tiến lên”. Ý nghĩa của nó là: Phải xung phong làm gương mẫu trong công tác, trong học hỏi, trong tiến bộ, trong đạo đức cách mạng. Thanh niên phải thành một lực lượng to lớn và vững chắc trong công cuộc kháng chiến và kiến quốc. Đồng thời phải vui vẻ, hoạt bát. Bác mong mỗi cháu và toàn thể các cháu nam nữ thanh niên cố gắng làm tròn nhiệm vụ, để xứng đáng với cái huy hiệu tươi đẹp và vẻ vang ấy”.(trích ‘Thư gửi thanh niên’, tháng 4/1951, Hồ Chí Minh toàn tập)

 

“Kháng chiến càng tiến tới, công việc ngày càng nhiều, chúng ta cần củng cố và phát triển Ðội TNXP để bảo đảm thêm công việc kháng chiến và đào tạo cán bộ sau này. Nhiệm vụ của Ðội TNXP là xung phong mọi việc bất kỳ việc khó, việc dễ và phục vụ đến ngày kháng chiến thành công. Ðó là nhiệm vụ rất vẻ vang của thanh niên”.(trích ‘Ðội Thanh niên xung phong”’ đăng trên báo Nhân dân số 147, 1953)

 

“Nhiệm vụ của thanh niên không phải là hỏi nước nhà đã cho mình những gì. Mà phải tự hỏi mình đã làm gì cho nước nhà? Mình phải làm thế nào cho ích lợi nước nhà nhiều hơn? Mình đã vì lợi ích nước nhà mà hy sinh phấn đấu chừng nào?” (trích ‘Bài nói chuyện với sinh viên và thanh niên trong Lễ khai mạc Trường Đại học Nhân dân Việt Nam’, ngày 19/11/1955)

“Tính trung bình thanh niên chiếm độ 1 phần 3 tổng số nhân dân – tức là một lực lượng to lớn. Lực lượng to lớn thì phải có nhiệm vụ to lớn”. (trích ‘Nhiệm vụ của thanh niên ta’, báo Nhân dân ngày 20/12/1955)

“Thanh niên ta phải cố gắng học. Do hoàn cảnh trong xã hội cũ hạn chế nên số đông thanh niên công – nông ta ít được học. Muốn xây dựng chủ nghĩa xã hội thì nhất định phải có học thức”. (trích ‘Bài nói chuyện của Bác tại Đại hội lần thứ III của Đoàn thanh niên Lao động Việt Nam’, ngày 24/3/1961)

“Phải không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện đâu cần thanh niên có, việc khó có thanh niên, gặp gian khổ phải đi lên phía trước, khi hưởng thụ phải hưởng thụ sau mọi người”. (trích ‘Bài phát biểu tại Hội nghị Cán bộ toàn miền Bắc’, tháng 9/1962)

 

“Đảng, Chính phủ và Bác rất chú ý đến thanh niên. Bác vui lòng khen ngợi những cố gắng của thanh niên… Thanh niên phải xung phong đến những nơi khó khăn gian khổ nhất, nơi nào người khác làm ít kết quả, thanh niên phải xung phong đến làm cho tốt...

Trọn đời trung thành với sự nghiệp cách mạng, với Tổ quốc, với Đảng, với giai cấp. Không sợ khổ, không sợ khó, thực hiện: ‘Đâu cần thanh niên có, việc gì khó thanh niên làm", "gian khổ thì đi trước, hưởng thụ sau mọi người’.

Không nên tự cho mình là tài giỏi, không khoe công, không tự phụ”. (trích ‘Bài phát biểu tại Hội nghị cán bộ Đoàn Thanh niên Lao động Việt Nam toàn miền Bắc’, ngày 22/9/1962)

“Các cháu xứng đáng là những thanh niên ưu tú của nhân dân Việt Nam anh hùng. Và, giặc Mỹ đã thua to ở hai miền nước ta, chúng đang thất bại ngày càng nặng nề hơn ở miền Nam, nhưng chúng vẫn rất ngoan cố chưa chịu từ bỏ âm mưu xâm lược nước ta. Vì vậy, Bác nhắc nhở các cháu: Phải nêu cao ý chí chiến đấu, tinh thần cảnh giác cách mạng, cùng quân dân ta quyết tâm đánh thắng hoàn toàn giặc Mỹ xâm lược; luôn luôn đoàn kết, ra sức học tập chính trị, kỹ thuật, văn hóa để ngày càng tiến bộ, đem hết nhiệt tình tài năng của tuổi trẻ cống hiến thật nhiều cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”. (trích ‘Thư khen ngợi đơn vị TNXP 333 có nhiều thành tích xuất sắc trên các tuyến đường Khu Bốn ác liệt’, ngày 27/1/1969)

 Ghi dấu ấn đậm nét trong chặng đường 90 năm lịch sử đầy vẻ vang của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh là những người trẻ, với lòng yêu nước nồng nàn, anh dũng, kiên trung và tài năng xuất chúng đã góp phần xứng đáng vào quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, khẳng định vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Xin được điểm một vài tấm gương như thế...

 

Anh hùng Lý Tự Trọng, sinh ngày 20/10/1914; tên thật là Lê Hữu Trọng. Anh sinh ra tại xã Thạch Minh, huyện Thạch Hà, tỉnh Hà Tĩnh. Tuổi 16 chàng trai trẻ Lý Tự Trọng nhận nhiệm vụ của Đảng trở lại Sài Gòn với nhiệm vụ thành lập Đoàn Thanh niên cộng sản. Tài trí và dũng cảm, những hoạt động của anh Lý Tự Trọng đã góp phần dấy lên phong trào cách mạng trong đội ngũ thanh thiếu niên. Anh bị thực dân Pháp bắt khi mới 17 tuổi.

Nhà tù thực dân khắc nghiệt với những trận đòn tra tấn dã man, cùng âm mưu mua chuộc đã không khuất phục được người chiến sĩ cộng sản Lý Tự Trọng. Trước phiên tòa kết tội của thực dân Pháp, anh hùng Lý Tự Trọng dõng dạc tuyên bố: “Con đường của thanh niên chỉ là con đường cách mạng, không thể có con đường nào khác”. Câu nói bất hủ của anh đã trở thành lý tưởng sống và vũ khí chiến đấu, kim chỉ nam hành động của thanh niên Việt Nam qua các thời kỳ cách mạng.

Sử sách ghi lại, trong xà lim tử hình, anh vẫn lạc quan, tin tưởng vào thắng lợi của cách mạng. Anh vẫn đọc Truyện Kiều, tập thể dục. Bọn lính canh cảm phục, kính nể gọi anh là Ông Nhỏ. Hy sinh ở tuổi 17, người anh hùng Lý Tự Trọng chính là một minh chứng hùng hồn về bản lĩnh kiên cường, bất khuất và lòng trung thành với quê hương đất nước của một người cộng sản trẻ tuổi.

T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh công nhận anh hùng Lý Tự Trọng là người Đoàn viên đầu tiên với tấm thẻ Đoàn viên danh dự số 1. Tên của anh được T.Ư Đoàn đặt cho giải thưởng nhằm tôn vinh cán bộ đoàn, đoàn viên tiêu biểu, được trao hàng năm vào dịp kỷ niệm thành lập Đoàn 26/3. Ngoài ra, tên của anh cũng được đặt cho nhiều trường học và con đường ở Việt Nam.

 

 

 

 

Kim Đồng, tên thật là Nông Văn Dền, sinh năm 1929, dân tộc Nùng, ở thôn Nà Mạ, xã Trường Hà, huyện Hà Quảng, tỉnh Cao Bằng. Anh là người đội trưởng đầu tiên của tổ chức Đội Thiếu niên Tiền phong (TNTP) Hồ Chí Minh. Đội TNTP Hồ Chí Minh, được thành lập ngày 15/5/1941. Bí danh của 5 đội viên đầu tiên là: Kim Đồng, Cao Sơn, Thanh Minh, Thanh Thủy, Thủy Tiên.

Kim Đồng sớm giác ngộ cách mạng và trở thành một liên lạc viên tin cậy của tổ chức Đảng. Kim Đồng đã cùng đồng đội làm nhiệm vụ giao liên, đưa đón cán bộ và chuyển thư từ. Trong một lần đi liên lạc, khi cán bộ đang có cuộc họp, anh phát hiện có quân Pháp đang tới, Kim Đồng đã đánh lạc hướng để các bạn của mình đưa cán bộ cách mạng về căn cứ an toàn. Kim Đồng chạy qua suối, quân Pháp theo không kịp liền nổ súng vào anh. Kim Đồng ngã xuống ngay bên bờ suối Lê Nin (Cao Bằng) ngày 15/2/1943, khi vừa tròn 14 tuổi.

 

Khu mộ nơi anh ngã xuống đã trở thành khu di tích Kim Đồng, địa chỉ đỏ cách mạng chào đón các thế hệ thiếu nhi Việt Nam đến nơi thành lập Đội TNTP, với người đội trưởng đầu tiên của mình.

Tháng 7/1997, Kim Đồng được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang.

 

Vừ A Dính, sinh ngày 12/9/1934, trong một gia đình người Mông giàu truyền thống cách mạng, tại bản Đề Chia, xã Pú Nhung, huyện Tuần Giáo, tỉnh Lai Châu (nay là tỉnh Điện Biên).

Ngay từ nhỏ, Dính là một cậu bé thông minh, gan dạ và nhanh nhẹn. Được cha mẹ giáo dục, Vừ A Dính đã sớm giác ngộ cách mạng và căm thù giặc Pháp xâm lược. Pú Nhung luôn bị giặc đột kích vào cướp bóc, đốt nhà, bắt người. Vì thế dân làng phải cử người canh gác để phát hiện giặc. Khi 13 tuổi, Vừ A Dính đã thoát ly gia đình xung phong làm đội viên liên lạc của đội vũ trang huyện Tuần Giáo.

Đến năm 1949, A Dính gia nhập bộ đội Việt Minh. Trong một lần Vừ A Dính đi liên lạc, quân Pháp vây bắt được anh và yêu cầu anh chỉ điểm nơi ở của cán bộ Việt Minh. Vừ A Dính tuyệt đối không khai bất cứ thông tin nào. Chiều tối 15/6/1949, quân Pháp đã bắn và treo anh lên cây đào cổ thụ ở Khe Trúc gần đồn Bản Chăn. Anh hy sinh khi anh ấy tròn 15 tuổi. Tấm gương hy sinh anh hùng bất khuất của Vừ A Dính đã đi vào sử sách.

Ngày 8/11/2000, Vừ A Dính được Chủ tịch nước truy tặng danh hiệu Anh hùng LLVTND. Ngày 5/3/1999, Ban Bí thư T.Ư Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và báo Thiếu niên Tiền phong quyết định lập Quỹ học bổng dành cho học sinh, sinh viên các dân tộc thiểu số Việt Nam, Quỹ mang tên Vừ A Dính.

 

Nữ anh hùng Võ Thị Sáu sinh năm 1933, tại huyện Đất Đỏ, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Sinh ra trong một gia đình nghèo, cha làm nghề đánh xe ngựa chở khách thuê đi Long Điền, Phước Hải, mẹ buôn bán bún bì chả tại chợ Đất Đỏ. Từ nhỏ, chị phải phụ giúp cha mẹ để mưu sinh.

Sau khi quân Pháp tái chiếm vùng Đất Đỏ vào cuối năm 1945, các anh trai của chị đã thoát ly gia đình, hoạt động kháng chiến cho phong trào Việt Minh. Chị bỏ dở việc học, ở nhà giúp mẹ cha kiếm sống và bí mật tiếp tế cho các anh công tác trong Chi đội Giải phóng quân của tỉnh Bà Rịa.

Năm 1946, chị theo anh trai là Võ Văn Me vào khu kháng chiến, và trở thành liên lạc viên của Đội Công an xung phong Đất Đỏ. Năm 1947, chị chính thức trở thành đội viên Công an xung phong Đất Đỏ khi mới 14 tuổi. Từ đó, chị tham gia nhiều trận đánh.

Chị bị quân Pháp bắt và kết án tử hình khi chưa đủ 18 tuổi. Khi ra pháp trường, chị Võ Thị Sáu đã hiên ngang, bất khuất hát bài Tiến quân ca. Những lời cuối cùng trước họng súng quân thù, chị hô vang: “Đả đảo bọn thực dân Pháp. Việt Nam độc lập muôn năm. Hồ Chủ tịch muôn năm!”. Hình ảnh người con gái Đất Đỏ kiên trung đi vào lịch sử, sống mãi trong lòng dân tộc. Bao thế hệ trẻ tiếp nối đều thuộc bài hát “Biết ơn chị Võ Thị Sáu” như một sự tri ân, ngưỡng vọng với nữ anh hùng.

 

Trần Văn Ơn, sinh ngày 29/5/1931, tại xã Phước Thạnh, huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre. Anh là học sinh trường Pétrus Trương Vĩnh Ký. Từ năm 1947, anh tham gia vào phong trào học sinh yêu nước của trường, tham gia Hội học sinh, sinh viên Việt Nam - Nam bộ.

Anh là hội viên mật của Đoàn học sinh kháng chiến nội thành, đồng thời, nhận nhiệm vụ tuyên truyền, vận động học sinh trong trường tham gia vào các hoạt động chống thực dân Pháp và chính quyền thân Pháp. Anh được coi là một cột trụ của phong trào học sinh yêu nước. Ngày 9/1/1950, anh đã bị chính quyền Pháp nổ súng bắn chết trong một cuộc biểu tình lớn của học sinh, sinh viên Sài Gòn đầu năm 1950. Cái chết của anh đã tạo tiếng vang lớn, có tác động rộng khắp trong phong trào đấu tranh của dân chúng Sài Gòn sau đó.

Đám tang Trần Văn Ơn trở thành một “cuộc biểu dương lực lượng của đồng bào yêu nước Sài Gòn - Chợ Lớn”, chống lại chính quyền thực dân Pháp. Tháng 2/1950, tại Đại hội toàn quốc Liên đoàn Thanh niên Việt Nam lần thứ nhất ở Việt Bắc quyết định lấy ngày 9/1, ngày mất của anh hùng liệt sĩ Trần Văn Ơn làm Ngày truyền thống Học sinh, Sinh viên Việt Nam.

Tên của anh được T.Ư Đoàn đặt cho giải thưởng Trần Văn Ơn, dành cho học sinh khối chuyên nghiệp và dạy nghề và được đặt cho con đường và trường học ở TPHCM, Biên Hòa, Thanh Hóa, Đồng Hới. Anh đã được truy tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân năm 2000.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Anh hùng La Văn Cầu, sinh năm 1932, tên thật là Sầm Phúc Hướng, dân tộc Tày, quê xã Phong Nặm, huyện Trùng Khánh, tỉnh Cao Bằng. Với khát khao được cầm súng giết giặc, giải phóng đất nước, dù mới 16 tuổi, La Văn Cầu đã khai tăng tuổi để được vào bộ đội.

Trong kháng chiến chống Pháp, từ năm 1948 đến năm 1952, La Văn Cầu đã tham gia chiến đấu 29 trận. Trận phục kích trên đường Bông Lau-Lũng Phầy ở Cao Bằng năm 1949, anh đã xung phong và một mình bắn chết lính Pháp trên xe tăng rồi nhảy lên xe đối phương dùng súng trên xe diệt thêm 10 lính Pháp nữa.

Trong trận Đông Khê thuộc Chiến dịch Biên giới năm 1950, La Văn Cầu là chỉ huy tổ bộc phá phá hàng rào để đơn vị phía sau công đồn. Anh bị trúng đạn dập nát một phần cánh tay phải. La Văn Cầu đã nghiến răng nhờ đồng đội dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay bị thương và tiếp tục chiến đấu. Với các thành tích trong chiến đấu, ngày 19/5/1952, La Văn Cầu được trao tặng danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân khi mới 20 tuổi.

Tấm gương giết giặc lập công của Đại tá, Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân La Văn Cầu đã trở thành huyền thoại, đi vào sử sách.

 

Anh Nguyễn Văn Trỗi sinh ngày 1/2/1940, hy sinh ngày 15/10/1964. Anh sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, tại làng Thanh Quýt nay là thôn Thanh Quýt 4, xã Điện Thắng Trung, huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam.

Lúc15 tuổi, anh rời khỏi quê nhà Quảng Nam ra Đà Nẵng rồi vào Sài Gòn lập nghiệp. Anh được Đảng giác ngộ, kết nạp vào Đoàn Thanh niên và tham gia hoạt động trong đơn vị biệt động của Sài Gòn. Anh nhận nhiệm vụ quan trọng đặt mìn ám sát Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Mc Namara ở cầu Công Lý. Việc bại lộ, anh bị địch bắt, chúng dùng mọi thủ đoạn từ nhục hình tra khảo đến tâm lý chiến, lấy cuộc sống xa hoa nhung lụa để mua chuộc nhưng mọi chiêu bài đều không khuất phục được Đoàn viên kiên trung Nguyễn Văn Trỗi.

Hình ảnh anh Nguyễn Văn Trỗi bất khuất trên pháp trường, giật băng đen bịt mắt, nhìn thẳng vào họng súng, hô to “Đả đảo bọn xâm lược Mỹ và bè lũ tay sai! Việt Nam muôn năm! Hồ Chí Minh muôn năm!” đã lay động trái tim những người yêu chuộng hòa bình trên toàn thế giới. Tấm gương anh Trỗi đã khơi gợi nhiều áng văn thơ lay động lòng người, khơi dậy phong trào yêu nước trong lớp lớp thanh niên. Cuốn hồi ký “Sống như Anh” do nhà báo Thái Duy (bút danh Trần Đình Vân) viết về người chiến sĩ biệt động Sài Gòn Nguyễn Văn Trỗi từ năm 1965 trở thành cuốn sách gối đầu của bao thế hệ bộ đội, thanh niên, sinh viên, học sinh, thiếu niên...

 

Hoa Xuân Tứ, sinh năm 1950, tại xóm 4, xã Hưng Nhân, huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An. Ông được xem là biểu tượng về nghị lực phi thường vượt lên số phận, với những biệt danh như: “chim cánh cụt biết bay”, “người không tay thần kỳ”.

Năm 4 tuổi, cậu bé Tứ bị cuốn vào máy ép mía. Vụ tai nạn khủng khiếp đó đã cướp đi hai cánh tay của cậu bé cụt đến tận bả vai. Không đầu hàng số phận, Hoa Xuân Tứ đã nỗ lực biến cằm, vai và chân của mình như hai bàn tay để học, lao động như những người bình thường khác. Những nét chữ đầu tiên được Hoa Xuân Tứ tập luyện bằng cách cặp gạch, que… vào chân viết trên nền sân nhà, sau đó, dùng bả vai và cằm để viết. Ồng tự làm tất cả mọi việc, bơi lội rất giỏi.

Nhà văn Sơn Tùng là người phát hiện ra câu chuyện cậu bé Hoa Xuân Tứ đã tìm về quê nhà Hưng Nhân để gặp gỡ và viết bài đăng trên báo Thiếu niên Tiền phong, với tiêu đề “Cụt hai tay mà vẫn học giỏi, lao động khá, thể thao cừ”, ngày 18/2/1966. Sau bài báo, nhà văn Sơn Tùng được Bác Hồ gọi đến gặp. Người mong biết thêm về cậu bé nghị lực này. Hoa Xuân Tứ là 1 trong 6 thiếu nhi tham gia Đại hội Anh hùng chiến sĩ thi đua toàn quốc, năm 1966. Đó là dấu ấn đáng nhớ trong cuộc đời Hoa Xuân Tứ, được gặp Bác Hồ được Bác ân cần hỏi han, động viên. Năm mươi năm sau, kể từ ngày được gặp Bác, ông Hoa Xuân Tứ một lần nữa được vinh danh tại chương trình giao lưu điển hình toàn quốc năm 2020 về học tập, làm theo tư tưởng, đạo đức và phong cách Hồ Chí Minh.

 

Lê Bá Khánh Trình, sinh ngày 19/5/1962, tại Huế. Ông là một trong 5 học sinh Việt Nam được chọn tham gia Olympic Toán Quốc tế ở Luân Đôn, Anh, năm 1979, khi đó, anh là học sinh tại lớp chuyên toán trường Quốc học Huế. Anh đã đoạt giải nhất với số điểm tuyệt đối, đồng thời, đoạt giải đặc biệt về lời giải độc đáo trong kỳ thi này, và là học sinh Việt Nam duy nhất đoạt giải đặc biệt trong một kỳ thi Toán Quốc tế tính đến nay. Lê Bá Khánh Trình được mệnh danh là “cậu bé vàng của Toán học Việt Nam”.

Sau kỳ thi trên, anh theo học tại khoa Toán trường Đại học Tổng hợp Quốc gia Matxcơva mang tên Lô-mô-nô-xốp, Matxcơva và bảo vệ xuất sắc luận án tiến sĩ. Trở về Việt Nam, ông làm giảng viên Khoa Toán - Tin học, Trường ĐH Khoa học tự nhiên TPHCM kiêm thỉnh giảng Trường phổ thông Năng khiếu, ĐH Quốc gia TPHCM, cho đến nay.

Năm 2005, ông là trưởng đoàn học sinh giỏi toán Việt Nam đi thi IMO 46 tại Mê-hi-cô. Năm 2013, ông tiếp tục là trưởng đoàn Việt Nam tham dự Olympic toán quốc tế (IMO-International Mathematics Olympiad) lần thứ 54 từ ngày 18-28/7, tại Santa Marta (Colombia) đã giành về 6 huy chương, với 3 Huy chương Vàng và 3 Huy chương Bạc. Nhiều năm liên tiếp ông có đóng góp to lớn trong việc giảng dạy những học sinh được chọn để đi thi Olympic toán quốc tế.

 

Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Thái Sơn, sinh ngày 2/7/1958, tại Hà Nội, nổi danh sau khi đoạt giải nhất cuộc thi piano quốc tế Sô-panh lần thứ X (tháng 10/1980) ở Vác-sa-va (Ba Lan). Đó là lần đầu tiên một nghệ sĩ dương cầm châu Á đoạt giải nhất tại cuộc thi này.

Năm 1984, Đặng Thái Sơn là một trong những nghệ sĩ đầu tiên được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ Nhân dân. Khi đó, ông mới 26 tuổi, và là nghệ sĩ nhân dân trẻ nhất khi được phong tặng danh hiệu này từ trước đến nay.

Những bài trình diễn của Nghệ sĩ Nhân dân thường là những bản nhạc độc tấu dương cầm của Sô-panh, hay là của những nhạc sĩ trường phái lãng mạn và ấn tượng, cũng như những bản nhạc hòa tấu dương cầm của hầu hết những nhà soạn nhạc nổi tiếng thế giới.

Đặng Thái Sơn là một trong 3 nghệ sĩ toàn cầu được chọn để biểu diễn (cùng Lý Vân Địch người Trung Quốc và Garrick Ohlsson người Mỹ tại Gala kỉ niệm 200 năm ngày sinh của Sô-panh tháng 3/2010.

Nghệ sĩ Nhân dân Đặng Thái Sơn có nhiều hoạt động hướng về quê hương, ông thường về Việt Nam để tham gia vào các buổi hòa nhạc lớn.

 Từ khi ra đời tới nay, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; chủ động tìm tòi những hướng đi mới, phù hợp với tiến trình cách mạng của dân tộc, đáp ứng sự kỳ vọng của Đảng, Bác Hồ và Nhân dân dành cho thế hệ trẻ; phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và nhu cầu, nguyện vọng của thanh thiếu nhi.

 

Một là, truyền thống yêu nước nồng nàn, gắn bó thiết tha, trung thành tuyệt đối với Đảng, với Nhân dân, với chế độ xã hội chủ nghĩa. Truyền thống quý báu này đã tạo nên động lực tinh thần vô giá xuyên suốt các thời kỳ lịch sử được thể hiện trong hành động cách mạng, nhất là ở những bước ngoặt của lịch sử gần 90 năm qua.

Hai là, truyền thống của đội quân xung kích cách mạng, dám đón lấy những nhiệm vụ nặng nề, dám đi đến những nơi khó khăn, gian khổ, dám suy nghĩ sáng tạo...để hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao. Thực hiện lời dạy của Bác Hồ: “Đâu cần thanh niên có, việc gì khó có thanh niên”, thế hệ trẻ nước ta luôn nêu cao tinh thần hăng hái, sẵn sàng xung phong đến những nơi Tổ quốc cần, dù đó là biên cương hay hải đảo, dù công việc đó là mới mẻ hay khó khăn.

 

Ba là, truyền thống gắn bó đoàn kết trong lớp người cùng lứa tuổi, trong các tổ chức Đoàn, Hội; đoàn kết gắn bó với Nhân dân; thương yêu giúp đỡ lẫn nhau trong hoạn nạn, đặc biệt là những thời điểm phải đối mặt với kẻ thù hay thiên tai. Đoàn kết dân tộc và đoàn kết quốc tế luôn hòa quyện vào nhau, đồng cảm và đồng tâm hợp lực vì những mục tiêu cao cả của dân tộc và thời đại.

Bốn là, truyền thống hiếu học, ham hiểu biết để tự mình nâng cao trình độ, chính trị văn hóa, khoa học, kỹ thuật, quản lý và quân sự... say mê sáng tạo trong hoạt động thực tiễn, để cống hiến cho sự nghiệp của dân tộc và của Đảng. Học ở nhà trường, học trong cuộc sống, học để làm người có ích cho xã hội, luôn được các thế hệ thanh niên phấn đấu, thực hiện ngày càng tốt hơn.

 Từ khi ra đời tới nay, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh đã không ngừng đổi mới nội dung và phương thức hoạt động; chủ động tìm tòi những hướng đi mới, phù hợp với tiến trình cách mạng của dân tộc, đáp ứng sự kỳ vọng của Đảng, Bác Hồ và Nhân dân dành cho thế hệ trẻ; phù hợp với quy luật phát triển của thời đại và nhu cầu, nguyện vọng của thanh thiếu nhi. Tổ chức Đoàn đã nghiên cứu phát triển lý luận, tổng kết thực tiễn, đề ra nhiều nghị quyết, kết luận, chương trình, kế hoạch để triển khai các mặt công tác Đoàn và phong trào thanh thiếu nhi. Công tác chỉ đạo luôn đổi mới, sáng tạo, kiên trì, quyết liệt, trong đó luôn ưu tiên tập trung hướng về cơ sở, chăm lo giải quyết những vấn đề bức thiết của thanh thiếu niên, góp phần quan trọng của toàn Đảng, hệ thống chính trị, cộng đồng và toàn xã hội chăm lo, bồi dưỡng, giáo dục thanh niên, thiếu niên và nhi đồng.

 

Để cụ thể hóa Nghị quyết Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI, từ đầu nhiệm kỳ đến nay, Ban Chấp hành, Ban Thường vụ, Ban Bí thư Trung ương Đoàn đã ban hành 10 đề án, 6 kết luận và nhiều chương trình, kế hoạch cụ thể khác để triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi giai đoạn 2017 - 2022. Ban Chấp hành Trung ương Đoàn TNCS Hồ Chí minh đã ký kết Nghị quyết liên tịch về Quy chế phối hợp với Chính phủ giai đoạn 2017 - 2022. Ban Bí thư Trung ương Đoàn ký kết chương trình phối hợp với gần 40 bộ, ban, ngành, đoàn thể Trung ương và nhiều tổ chức khác…; được cụ thể hóa hiệu quả ở cấp cơ sở, tạo ra cơ chế, chính sách đồng bộ cho công tác thanh thiếu nhi trong tình hình mới.

Với những bước đi và cách mới, quyết liệt, công tác đoàn và phong trào thanh thiếu nhi trong nửa đầu nhiệm kỳ Đại hội Đoàn toàn quốc lần thứ XI đã đạt được những kết quả rất tích cực, toàn diện trên các mặt công tác.

 Nội dung, phương thức giáo dục được triển khai đồng bộ, đổi mới theo hướng chất lượng, hiệu quả hơn. Việc thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW gắn với việc thực hiện Chỉ thị số 42-CT/TW được xác định là nội dung xuyên suốt, nhiệm vụ căn bản, bao trùm trong công tác giáo dục của Đoàn, tạo chuyển biến tích cực trong nhận thức, rèn luyện, tu dưỡng đạo đức của tuổi trẻ. Công tác giáo dục chính trị, tư tưởng được tăng cường. Công tác giáo dục truyền thống cách mạng, lòng yêu nước, tinh thần tự hào, tự tôn dân tộc cho thanh thiếu nhi được tổ chức thường xuyên, bám sát các sự kiện lịch sử, chính trị, văn hóa của đất nước. Các cấp bộ Đoàn duy trì hiệu quả các kênh thông tin truyền thống, phát huy vai trò mạng xã hội nhằm kịp thời cung cấp thông tin, định hướng dư luận xã hội trong đoàn viên, thanh niên. Việc đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, nhất là trên không gian mạng có nhiều kết quả tích cực thông qua việc thành lập và duy trì mô hình “Câu lạc bộ lý luận trẻ” và Cuộc vận động “Mỗi ngày một tin tốt - Mỗi tuần một câu chuyện đẹp”. Các sản phẩm tuyên truyền trên Internet và mạng xã hội như infographic, video clip, bộ ảnh, video ca nhạc, poster cổ động, phóng sự, phim ngắn... do các cấp bộ Đoàn xây dựng nhân các ngày lễ lớn, các sự kiện chính trị quan trọng được thanh thiếu niên yêu thích, đón nhận. Hình thức thi tìm hiểu trực tuyến phát huy hiệu quả trong công tác giáo dục của Đoàn.

 

Các phong trào có sự đổi mới trong phương thức tổ chức, phát triển về quy mô, hiệu quả từng bước được nâng lên, qua đó đã phát huy vai trò xung kích, tinh thần tình nguyện, sáng tạo, khơi dậy tiềm năng to lớn của thanh niên. Đặc biệt, trong bối cảnh dịch bệnh, thiên tai diễn biến phức tạp, nhất là dịch Covid-19, các cấp bộ đoàn đã chủ động đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức triển khai phong trào, kịp thời cập nhật các nội dung mới theo tình hình thực tế và theo chỉ đạo của Đảng, Chính phủ đã mang lại hiệu quả tích cực. Phong trào “Thanh niên tình nguyện” tiếp tục được đoàn viên, thanh niên đón nhận, được thẩm thấu đến cơ sở thông qua việc thiết kế và tổ chức triển khai phong trào rộng khắp, toàn diện từ Trung ương đến cơ sở; các số liệu thống kê đã cho thấy sự tăng trưởng về diện rộng và tác động của phong trào. Phong trào “Tuổi trẻ sáng tạo” được đẩy mạnh thực hiện ngay từ đầu nhiệm kỳ đã thúc đẩy tinh thần sáng tạo trong đoàn viên, thanh thiếu nhi. Phong trào “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc” tiếp tục được triển khai hiệu quả, thể hiện vai trò xung kích của tuổi trẻ trong bảo vệ Tổ quốc, giữ gìn an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội.

Các chương trình đồng hành với thanh niên được quan tâm, đẩy mạnh đã đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu, lợi ích chính đáng của thanh niên, đặc biệt trong học tập, tư vấn, hướng nghiệp, khởi nghiệp, phát triển kinh tế, nâng cao đời sống văn hóa tinh thần và các kỹ năng trong cuộc sống cần thiết đối với thanh niên.

 

Công tác phụ trách Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và bảo vệ, chăm sóc, giáo dục thiếu niên, nhi đồng đạt được nhiều kết quả quan trọng. Chương trình “Rèn luyện đội viên” giai đoạn 2018 - 2022 được triển khai với nhiều điểm đổi mới, phù hợp hơn với điều kiện học tập, rèn luyện và sự trưởng thành của thiếu nhi. Phong trào “Thiếu nhi Việt Nam thi đua làm theo 5 điều Bác Hồ dạy” tiếp tục được xác định là trọng tâm, xuyên suốt của nhiệm kỳ. Công tác bảo vệ, chăm lo cho trẻ em và thực hiện nhiệm vụ đại diện tiếng nói, nguyện vọng của trẻ em có nhiều chuyển biến tích cực, dần đi vào thực chất.

Công tác quốc tế thanh niên tiếp tục có những bước phát triển mới về chiều sâu, chất lượng được nâng lên, đóng góp tích cực vào thành công chung của công tác đối ngoại nhân dân. Các hoạt động nâng cao năng lực ngoại ngữ, đặc biệt là tiếng Anh cho thanh thiếu niên Việt Nam được quan tâm triển khai hiệu quả.

Công tác xây dựng Đoàn; mở rộng mặt trận đoàn kết, tập hợp thanh niên tiếp tục được coi trọng và triển khai quyết liệt để thực hiện các chủ trương mới, tiêu biểu: chủ trương 1+2; chủ trương 1+1; xây dựng cơ sở Đoàn 3 chủ động; thực hiện sắp xếp lại bộ máy Đoàn cấp tỉnh được thực hiện quyết liệt, có nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả, qua đó, chất lượng cán bộ đoàn, đoàn viên, tổ chức cơ sở Đoàn từng bước được nâng cao. Công tác kiểm tra, giám sát của Đoàn có chuyển biến tích cực. Nội dung và phương thức đoàn kết tập hợp thanh niên được đổi mới theo hướng đáp ứng với nhu cầu, sở thích của thanh niên, tỷ lệ đoàn kết tập hợp thanh niên tăng so với đầu nhiệm kỳ.

Công tác Đoàn tham gia xây dựng, bảo vệ Đảng và hệ thống chính trị có nhiều chuyển biến tích cực; Cuộc vận động “Đoàn viên phấn đấu trở thành đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam” tiếp tục được triển khai có hiệu quả, chất lượng giới thiệu đoàn viên ưu tú cho Đảng xem xét, kết nạp ngày càng được nâng cao. Các cấp bộ Đoàn tích cực tham mưu xây dựng và triển khai các chủ trương, chính sách về thanh niên và công tác thanh niên. Các hoạt động phản biện xã hội được tham mưu, triển khai dưới nhiều hình thức, tạo môi trường để cán bộ, đoàn viên, thanh niên tham gia đóng góp ý kiến xây dựng các chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến thanh niên và công tác thanh niên, đặc biệt tập trung vào góp ý dự thảo Luật Thanh niên (sửa đổi). Các cấp bộ Đoàn phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị - xã hội cùng cấp thực hiện việc phản biện các dự thảo văn bản của cấp ủy, chính quyền địa phương về các vấn đề phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội tại địa phương.

 Ban Bí thư T.Ư Đoàn mong muốn sẽ khơi được sức mạnh tiềm tàng, khát vọng, ý chí của từng bạn trẻ tiên phong hiện thực hóa tầm nhìn 2030, khát vọng 2045 mà Đại hội XIII của Đảng đã vạch ra. Đó là chia sẻ của anh Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn nhân kỷ niệm 90 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931-26/3/2021).

 Tham dự Lễ kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh (26/3/1931 - 26/32021), có Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Nguyễn Phú Trọng, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc; Ủy viên Bộ Chính trị, Thường trực Ban Bí thư T.Ư Đảng Võ Văn Thưởng; lãnh đạo, nguyên lãnh đạo Đảng và Nhà nước, lãnh đạo các ban, bộ, ngành, đoàn thể, lãnh đạo các tỉnh, thành phố; nguyên Bí thư thứ nhất, nguyên Bí thư T.Ư Đoàn; cán bộ đoàn, đoàn viên tiêu biểu nhận các giải thưởng cao quý của T.Ư Đoàn; hơn 1.000 đoàn viên thanh niên (ĐVTN)...

 

Tại Lễ kỷ niệm, anh Nguyễn Anh Tuấn, Ủy viên T.Ư Đảng, Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn, Chủ tịch Hội LHTN Việt Nam ôn lại truyền thống 90 năm của Đoàn TNCS Hồ Chí Minh. Từ buổi đầu ra đời chỉ với 8 đoàn viên, đến nay Đoàn đã trở thành một tổ chức lớn mạnh. Sự trưởng thành của Đoàn qua các thời kỳ đã đáp ứng kịp thời những đòi hỏi cấp bách của phong trào thanh niên.

Sau 90 năm, cả nước đã có hơn 6,2 triệu đoàn viên; mặt trận đoàn kết tập hợp thanh niên ngày càng được mở rộng; quan hệ hợp tác với tổ chức thanh niên các nước và các tổ chức quốc tế được củng cố, tăng cường; vị thế thanh niên Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao.

Nhìn lại chặng đường 90 năm qua, Đoàn và tuổi trẻ Việt Nam luôn chứng tỏ lòng yêu nước, trung thành và tin tưởng tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng, vào mục tiêu lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.

 

“Ở mỗi thời kỳ cách mạng, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh và tuổi trẻ Việt Nam đều có những đóng góp xứng đáng vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa”, anh Nguyễn Anh Tuấn cho biết.

Theo Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn, quyết sách của Đại hội Đảng XIII đã khởi tạo một giai đoạn phát triển mới với khát vọng hùng cường thịnh vượng. “Tuổi trẻ đang phấn chấn trước một tầm nhìn, một khát vọng Việt Nam; đồng thời, cũng thấy cần phải cố gắng, nỗ lực nhiều hơn nữa để tự hoàn thiện mình, đáp ứng tốt hơn yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới”, anh Tuấn nói.

Bí thư thứ nhất T.Ư Đoàn cho biết, Đoàn TNCS Hồ Chí Minh tiếp tục đổi mới mạnh mẽ, hiệu quả nội dung, phương thức hoạt động, sáng tạo; thúc đẩy chuyển đổi số trong tổ chức và hoạt động của Đoàn.

Theo đó, Đoàn tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác giáo dục lý tưởng cách mạng, đạo đức, lối sống văn hóa cho thanh thiếu nhi. Trọng tâm là giáo dục lòng yêu nước, tự hào dân tộc, nêu cao tinh thần trách nhiệm, lý tưởng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong thanh thiếu nhi. Đắp xây hình mẫu thanh niên Việt Nam thời kỳ mới trên nền tảng các giá trị cốt lõi “tâm trong - trí sáng - hoài bão lớn”.

Đoàn triển khai các hoạt động tình nguyện đảm bảo tính rộng khắp; khơi dậy tinh thần đổi mới sáng tạo; tạo môi trường thuận lợi để thanh niên lập nghiệp, khởi nghiệp; nâng cao năng lực số, năng lực sử dụng ngoại ngữ; hình thành “những công dân đám mây”, công dân toàn cầu.

 

- Thưa anh, dịp kỷ niệm 90 năm thành lập Đoàn TNCS Hồ Chí Minh có ý nghĩa thế nào đối với thế hệ trẻ Việt Nam hiện nay?

- Anh Nguyễn Anh Tuấn:

Chúng ta kỷ niệm 90 năm thành lập Đoàn trong bối cảnh Đại hội Đảng lần thứ XIII vừa thành công rất tốt đẹp. Đại hội đã quyết nghị định hướng phát triển đất nước với tầm nhìn dài hạn, xác lập mục tiêu đến năm 2030, khát vọng, tầm nhìn năm 2045, với mong muốn xây dựng một đất nước Việt Nam phồn thịnh, hùng cường. Nghị quyết Đại hội XIII đặt thanh niên ở vị trí trung tâm của hầu hết các vấn đề.

Nghị quyết yêu cầu Đoàn tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động để bám sát yêu cầu phát triển, bảo vệ Tổ quốc, đồng thời chăm lo, bảo vệ tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp, chính đáng, thiết thân của thanh niên, vừa bồi dưỡng, phát huy thanh niên để đóng góp nhiều nhất cho mục tiêu phát triển đất nước.

Chính vì vậy, kỷ niệm 90 năm thành lập Đoàn không phải là một hoạt động kỷ niệm thông thường, không chỉ dừng lại ở hoạt động mang tính chất lễ nghi mà phải là đợt hoạt động, sinh hoạt chính trị sâu rộng của đoàn viên, thanh niên. Đây là dịp để Đoàn đúc kết lại những giá trị cốt lõi được hun đúc qua nhiều thế hệ; đồng thời, nhìn ra những vấn đề mới, yêu cầu mới cho giai đoạn phát triển tiếp theo.

Qua đó, giúp Đoàn định hình đầy đủ, rõ ràng hơn trong quá trình đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của mình. Để từ đó, xây dựng lớp thanh niên thời kỳ mới có lý tưởng cách mạng, bản lĩnh vững vàng, giàu lòng yêu nước, có đạo đức trong sáng, lối sống văn hóa, tuân thủ pháp luật, luôn tiên phong hành động, sáng tạo không ngừng, học tập liên tục, có sức khỏe tốt, kỹ năng phù hợp và khát vọng vươn lên, góp phần hiện thực hóa khát vọng hùng cường 2045.

  • Thanh niên là đội quân xung kích, tiên phong hiện thực hóa khát vọng đất nước hùng cường vào năm 2045. Là thủ lĩnh thanh niên cả nước, anh có thể chia sẻ về sứ mệnh cao cả này trong chặng đường sắp tới?
  • - Anh Nguyễn Anh Tuấn:

    Để hiện thực hóa khát vọng hùng cường vào năm 2045 thì cần sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị, sự ủng hộ giúp đỡ của cộng đồng quốc tế, không riêng gì thanh niên. Tuy nhiên, thanh niên phải gánh vác sứ mệnh của mình, với tư cách là những người trẻ, những người xung kích sáng tạo. Những bạn thanh niên hiện nay đến năm 2045 sẽ ở độ tuổi trên dưới 40, bước vào độ tuổi đủ độ chín về kiến thức, kỹ năng, trải nghiệm để gánh vác trọng trách lớn ở từng cơ quan, đơn vị, lĩnh vực của xã hội. Những em thiếu nhi hiện nay, thậm chí, những cháu bé sinh ra ở thời điểm này vừa là chủ thể mới, cũng vừa là đối tượng thụ hưởng thành quả phát triển đất nước.

    Nhận thức sâu sắc ý nghĩa đó nên ngay sau Đại hội lần thứ XIII, Ban Chấp hành T.Ư Đoàn đã bàn về chương trình hành động của tuổi trẻ thực hiện Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng. Hiện nay, chương trình hành động đang được khẩn trương hoàn thiện và sẽ ban hành trong những ngày tới đây. Chương trình hành động của Đoàn có 8 chương trình lớn, trong đó 1 chương trình tập trung phát triển nguồn nhân lực trẻ, phát hiện, bồi dưỡng, đề xuất sử dụng thanh niên tài năng, để làm sao các bạn đóng góp tốt nhất cho quá trình phát triển đất nước.

    Ban Bí thư T.Ư Đoàn luôn bám sát những quan điểm của Đảng trong Nghị quyết Đại hội XIII để có sự đổi mới mạnh mẽ về nội dung, phương thức hoạt động. Trong đó, chú trọng giáo dục lớp thanh niên năm 2045 không chỉ giỏi về chuyên môn, trí tuệ, có tinh thần đổi mới, sáng tạo, có năng lực hội nhập toàn cầu mà còn có bản lĩnh, khí phách, nhân cách của con người Việt Nam trong thời kỳ mới.

  • - 90 năm qua, Đoàn đã có những phong trào đi vào lịch sử. Vậy, trong thời kỳ mới này, với những sứ mệnh lịch sử mới, Đoàn thanh niên cần có những phong trào thế nào để hiệu triệu thanh niên chung sức đưa đất nước phát triển hùng cường?

    - Anh Nguyễn Anh Tuấn:

    Tâm huyết, khát vọng và kiên định là 3 yếu tố mà cán bộ Đoàn, đoàn viên, thanh niên thời nào cũng cần và nó được hun đúc, bồi đắp, nuôi dưỡng, phát triển qua nhiều thế hệ.

    Chính khát vọng độc lập dân tộc tạo nên sức mạnh to lớn cho thế hệ thanh niên Việt Nam trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ với những phong trào đỉnh cao đi vào lịch sử, như: “Ba sẵn sàng”, “Năm xung phong”… góp phần xứng đáng vào công cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước.

    Khí thế của các thế hệ thanh niên lớp trước để lại là những bài học quý giá để chúng ta tổ chức phong trào hành động cách mạng cho thanh niên hiện nay theo hướng, vừa phải khơi sức, phát huy sức mạnh tiềm tàng; đồng thời chăm lo, bồi dưỡng cho họ. Trong bối cảnh hội nhập, thời đại số với nhiều cạnh tranh thách thức, mục tiêu đa dạng hơn, thanh niên có sự phân tầng, Đoàn càng phải chăm lo, đồng hành, bồi dưỡng để thanh niên phát triển toàn diện.

  • Trong triển khai phong trào hiện nay cần đặc biệt quan tâm đến 2 nhóm đối tượng: thanh niên tài năng và thanh niên yếu thế. Nhóm thanh niên tài năng là tinh hoa ở trong từng thế hệ, nếu biết phát huy các bạn đồng hành với Đoàn dẫn dắt lớp thanh niên ở giữa để ngày càng có thêm nhiều thanh niên tài năng thì chắc chắn sự đóng góp của người trẻ cho đất nước sẽ nhiều hơn.

    Nhóm thanh niên yếu thế là nhóm cần được chăm lo để các bạn vươn lên bứt ra khỏi khó khăn và trở thành thanh niên ở nhóm giữa và cao hơn, từ đó, giảm đi thanh niên yếu thế. Cũng giống như một đoàn tàu, nếu có đầu tàu mạnh, thân tàu chắc chắn, phần đuôi tàu được trợ sức để vươn lên thì đoàn tàu đó sẽ chạy nhanh và bền vững về đích.

    Với tình hình thanh niên đa dạng, phân tầng như hiện nay sẽ khó tìm được một phong trào chung cho tất cả đối tượng thanh niên. Từ khung của 3 phong trào: “Thanh niên tình nguyện”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Tuổi trẻ xung kích bảo vệ Tổ quốc”, chúng tôi thiết kế những phong trào nhánh phù hợp với nhu cầu, năng lực, mong muốn của từng nhóm đối tượng thanh niên.

    Khi mình khơi được dòng chảy của từng khe suối nhỏ thì dòng nước đó sẽ đổ về một con sông lớn. Và khơi được càng nhiều con suối nhỏ thì dòng sông càng lớn, vươn ra biển với khí thế hiên ngang. Ban Bí thư T.Ư Đoàn mong muốn sẽ khơi được sức mạnh tiềm tàng, khát vọng, ý chí của từng bạn trẻ tiên phong hiện thực hóa tầm nhìn 2030, khát vọng 2045 mà Đại hội XIII của Đảng đã vạch ra.

    Bên cạnh đó, để xây dựng một phong trào có sức hút, cần có hạt nhân nòng cốt dẫn dắt, định hướng. Hạt nhân đó có thể là cán bộ Đoàn, Hội, cũng có thể là thanh niên tiêu biểu, người nổi tiếng, có sức ảnh hưởng ở các lĩnh vực. Và đặc biệt, cần ứng dụng một cách mạnh mẽ, tận dụng triệt để lợi thế của chuyển đổi số trong tập hợp, giáo dục thanh niên, tổ chức phong trào cho thanh niên.

  • - Nhân kỷ niệm 90 năm Ngày thành lập Đoàn, anh nhắn nhủ thông điệp gì đến bạn trẻ Việt Nam?

    - Anh Nguyễn Anh Tuấn:

    Mỗi người trẻ phải có ước mơ, hoài bão, khát vọng. Ban Bí thư T.Ư Đoàn mong muốn, mỗi bạn trẻ hãy chinh phục, hiện thực hóa khát vọng của mình bằng những công việc rất cụ thể hàng ngày trong học tập, lao động, công tác, huấn luyện, sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu. Thế hệ của chúng ta đang bắt đầu từ hôm nay, ngay sau Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng để trồng một cái cây cho năm 2045. Chúng ta trồng cây, phải bắt đầu từ lựa chọn hạt giống, đất để gieo trồng, phải chăm bón hàng ngày thì đến năm 2045 mới có cây xanh tốt, vững gốc, chắc cành và đơm hoa kết trái. Thế nên mỗi bạn trẻ ngay bây giờ hãy bắt đầu hành động từ công việc cụ thể hàng ngày của mình với những ước mơ và khát vọng cao đẹp nhất vì một Việt Nam hùng cường.

    Xin trân trọng cảm ơn anh!

  • (Tiền Phong)
Top