Chính sách kinh tế của Ấn Độ đối với Việt Nam

Thứ Hai, 25/10/2021| 9:32

Kể từ khi Việt Nam- Ấn Độ nâng tầm quan hệ thành “Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” vào năm 2016, quan hệ chiến lược hia nước đã tiếp tục phát triển về chiều sâu, phản ánh qua việc tăng cường hợp tác về quốc phòng và an ninh, an toàn hàng hải.

Kể từ khi Việt Nam- Ấn Độ nâng tầm quan hệ thành “Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện” vào năm 2016, quan hệ chiến lược hia nước đã tiếp tục phát triển về chiều sâu, phản ánh qua việc tăng cường hợp tác về quốc phòng và an ninh, an toàn hàng hải.

Chính sách kinh tế của Ấn Độ đối với Việt Nam

Tuy nhiên quan hệ kinh tế giữa hai nước phát triển vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, làm hạn chế khả năng của hai bên trong giải quyết các vấn đề an ninh chiến lược chung như Trung Quốc gia tăng quan hệ kinh tế ở các địa bàn sân sau của Ấn Độ và thái độ ngày càng quyết đoán của nước này ở Biển Đông.

Việt Nam nỗ lực đẩy mạnh hội nhập thị trường toàn cầu đã mở ra cơ hội to lớn cho hợp tác kinh tế Ấn – Việt. Năm 2019, Việt Nam đã ký Hiệp định Thương mại tự do và Hiệp định bảo hộ đầu tư với Liên minh Châu Âu. Việt Nam hiện cũng là thành viên của Hiệp định Đối tác tiến bộ và toàn diện xuyên Thái Bình Dương CPTPP- một cơ chế Việt Nam đóng vai trò xúc tác rất tích cực trong suốt quá trình đàm phán và ký kết. Trong năm giữ vai trò Chủ tịch ASEAN 2020, 10 quốc gia thành viên đã ký Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP)- hiệp định thương mại tự do lớn nhất thế giới hiện nay.

Phần nào lý do để Việt Nam tìm cách đa dạng hóa quan hệ thương mại và đầu tư là nhằm giảm phụ thuộc kinh tế vào Trung Quốc. Trung Quốc hiện là đối tác thương mại lớn nhất của Việt Nam với tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt 133 tỉ USD trong năm 2020. Bắc Kinh hiện cũng là nhà đầu tư nước ngoài lớn nhất của Việt Nam với tổng số vốn đầu tư đến tháng 11/2020 đạt 2,4 tỉ USD. Bên cạnh đó, hai nước này hiện tồn tại vấn đề tranh chấp lãnh thổ, lãnh hải trên khu vực Biển Đông.

Việt Nam có nhiều lý do để đa dạng hóa các đối tác kinh tế, trong số này có Ấn Độ. Trong cuộc tiếp Đại sứ Ấn Độ ở Việt Nam ông Pranay Verma mới đây, Chủ tịch nước Việt Nam Nguyễn Xuân Phúc đã khuyến khích Ấn Độ đẩy mạnh đầu tư tại Việt Nam và tăng cường nhập khẩu hàng nông sản Việt Nam.

Đến nay, số liệu thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Ấn Độ chỉ chiếm khoảng 11,1 tỉ USD trong năm tài khóa 2020-2021 – chỉ bằng chưa tới 1/12 số liệu với Trung Quốc. Hàng Việt Nam xuất sang Ấn Độ đã tăng từ 2,5 tỉ USD giai đoạn 2015-2016 lên 6,1 tỉ USD năm 2020-2021 nhưng tốc độ tăng trưởng đang ở mức thấp, trái ngược với quan hệ thương mại của Hà Nội với các nước ASEAN chủ chốt.

Không chỉ thấp hơn Trung Quốc, quy mô đầu tư của Ấn Độ vào Việt Nam còn thấp hơn nhiều nước Châu Á khác như Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore. Chủ nghĩa bảo hộ cũng đang gia tăng ở Ấn Độ, cản trở triển vọng quan hệ kinh tế. Ấn Độ không phải thành viên CPTPP và rút khỏi RCEP vào phút chót do lo ngại về thâm hụt thương mại với các nước RCEP khác.

Trong khi đó, thông qua các thiết chế riêng - đặc biệt là Sáng kiến ​​Vành đai và Con đường và Hợp tác Lan Thương – Mê Công, Bắc Kinh đã và đang củng cố sự hiện diện kinh tế không chỉ ở Việt Nam mà còn rộng hơn ra khắp khu vực Mê Công. Thông qua các cơ chế này, Trung Quốc củng cố vị thế chủ đạo như một nhà cung cấp hàng hóa chính cho cả khu vực. Thực tế này có thể làm suy yếu tầm nhìn chiến lược chung của Việt Nam và Ấn Độ về một Biển Đông dựa trên luật lệ. Ngày càng phụ thuộc vào viện trợ và đầu tư của Trung Quốc để thúc đẩy phát triển nội bộ, Lào và Campuchia tỏ ra miễn cưỡng ủng hộ lập trường của Việt Nam về Biển Đông.

Trong lúc Ấn Độ thực hiện một số bước đi nhằm thúc đẩy hội nhập kinh tế với các nước CLMV thông qua các dự án như Hiệp định Kinh doanh Ấn Độ-CLMV và Sáng kiến ​​Hợp tác Mekong- Sông Hằng, quan hệ kinh tế nói chung vẫn còn tương đối yếu. Điều này phần lớn là do chưa khai thác hết các kênh tín dụng và thiếu kết nối thực tế. Để cạnh tranh với Trung Quốc tốt hơn, Ấn Độ cần suy xét lại chính sách kinh tế của nước này với Việt Nam, cũng như với các nước Đông Nam Á lục địa.

Ấn Độ nên bắt đầu bằng cách đẩy nhanh việc đánh giá Hiệp định thương mại tự do ASEAN - Ấn Độ qua các đối thoại đa phương giúp tối đa hóa khả năng các thương nghiệp Ấn Độ tiếp cận thị trường các nước ASEAN. Từ khi có hiệu lực năm 2010, FTA ASEAN - Ấn Độ cho thấy hiệu quả khiêm tốn do hai bên chưa đạt được nhất trí về giảm hàng rào phi thuế quan. Năm 2018, Đại sứ Việt Nam tại Ấn Độ Tôn Sinh Thành đã thúc đẩy việc cập nhật và đánh giá FTA Ấn Độ - ASEAN nhằm đưa quan hệ kinh tế với Ấn Độ đi vào chiều sâu.

Trong trường hợp đầu tư trực tiếp nước ngoài của Ấn Độ vào Việt Nam, Ấn Độ cần nỗ lực phát triển các kênh để giảm bớt sự bất cân xứng thông tin giữa các công ty Ấn Độ về cơ hội tại Việt Nam. Trong số các nước láng giềng phía đông, với các dự án kết nối trên biển và đất liền gần như hoàn thiện đi cùng với quan hệ chính trị mật thiết, Việt Nam là điểm đến đầu tư đáng tin cậy cho các doanh nghiệp Ấn Độ.  cho các công ty Ấn Độ.

Ấn Độ nên phối hợp với Việt Nam đẩy mạnh đa dạng hóa các nguồn viện trợ ở Đông Nam Á lục địa. Việt Nam không chỉ là một đối tác chiến lược thân cận của Ấn Độ mà còn là một thành viên tầm trung rất tích cực của ASEAN. Việt Nam đóng một vai trò cực kỳ quan trọng trong thúc đẩy tiến bộ về kinh tế - xã hội ở Đông Nam Á lục địa trên nền tảng hợp tác ASEAN và Tam giác Phát triển Việt – Lào – Campuchia. Hà Nội cũng quan tâm đến việc thu hút các nhà đầu tư bên ngoài vào trong khu vực sông Mekong để thúc đẩy tăng trưởng khu vực và đa dạng hóa kinh tế. Vì các lý do trên, Việt Nam có thể đóng vai trò như người xây cầu quan trọng giữa Ấn Độ và các nước CMLV trong lĩnh vực kết nối và hợp tác kinh tế./.

(Thu Hường dịch từ Eastasiaforum)

Top