UNCLOS 1982 - Văn kiện pháp lý đồ sộ về hòa bình và phát triển bền vững biển, đại dương

Thứ Hai, 12/12/2022| 11:25

Sau 5 năm họp trù bị và một thập kỷ nỗ lực đàm phán, Công ước Luật Biển của Liên hợp quốc (LHQ) được thông qua ngày 30/4/1982 (gọi tắt là Công ước Luật Biển 1982).

UNCLOS 1982 - Văn kiện pháp lý đồ sộ về hòa bình và phát triển bền vững biển, đại dươngUNCLOS 1982 được xem như một bản Hiến pháp của đại dương 

Bản Hiến pháp của đại dương

Lễ ký Công ước tổ chức tại Montego (Jamaca) ngày 10/12/1982 với 107 quốc gia tham gia ký kết, trong đó có Việt Nam. Công ước bắt đầu có hiệu lực từ ngày 16/11/1994 và trở thành một trong những văn kiện quốc tế quan trọng nhất của thế kỷ XX, tiếp sau Hiến chương LHQ, với 168 quốc gia phê chuẩn tính đến thời điểm này.

Công ước Luật Biển 1982 là một văn kiện quốc tế đa phương đồ sộ, thể hiện sự thoả hiệp mang tính toàn cầu, bao quát toàn bộ các vấn đề pháp lý quan trọng nhất liên quan đến biển và đại dương, bao gồm cả đáy biển và lòng đất dưới đáy biển, có tính đến lợi ích của tất cả các quốc gia khác nhau (gồm cả những nước có biển và không có biển, các nước phát triển cũng như đang phát triển).

Công ước khẳng định chủ quyền của quốc gia ven biển đối với các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền tài phán quốc gia (bao gồm lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hai, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa), đồng thời xác định rõ quyền và nghĩa vụ của mọi quốc gia về hợp tác, sử dụng và khai thác hợp lý các nguồn tài nguyên biển, về giao thông liên lạc, nghiên cứu khoa học, bảo vệ môi trường, giải quyết hòa bình các tranh chấp về biển, tuân thủ chế độ quản lý khai thác tài nguyên đối với đối với các vùng biển nằm ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia. Công ước không chấp nhận bảo lưu mà đòi hỏi phải tham gia “cả gói” (package deal) theo nguyên tắc “nhất trí” (consensus). Các quốc gia tham gia Công ước phải có trách nhiệm ràng buộc và thực hiện toàn bộ các điều khoản của Công ước.

Công ước còn được coi là một trong những thành tựu có ý nghĩa nhất trong lĩnh vực luật pháp quốc tế của thế kỷ XX, bao gồm 320 điều khoản và 9 Phụ lục, với hơn 1000 quy phạm pháp luật và được mệnh danh là “Bản Hiến pháp của đại dương”.

Một số nội dung quan trọng đã được quy định trong UNCLOS 1982 bao gồm:

1. Quy chế các vùng biển thuộc phạm vi tài phán quốc gia của nước ven biển:

Quốc gia ven biển được quyền thiết lập và thực thi chủ quyền đầy đủ đối với lãnh hải rộng 12 hải lý tính từ “đường cơ sở lãnh hải” (bao gồm cả vùng nước, bầu trời và lòng đất đáy biển). Tuy nhiên, tàu thuyền và máy bay của tất cả các nước đều có quyền "qua lại vô hại" trên vùng nước lãnh hải thuộc quốc gia ven biển. Đối với các khu vực lãnh hải có eo biển được sử dụng cho hàng hải quốc tế, tàu thuyền và máy bay của các nước được được hưởng quyền "quá cảnh" (transit) với quy chế tự do hơn.

Những nước là “Quốc gia quần đảo” được quyền xác định đường cơ sở lãnh hải nối các đảo ngoài cùng thuộc quần đảo; tàu thuyền nước ngoài được phép "qua lại vô hại" trong vùng nước quần đảo hoặc đi theo các tuyến đường hàng hải do quốc gia quần đảo ấn định. Trong “vùng tiếp giáp lãnh hải” rộng tối đa 12 hải lý, quốc gia ven biển được thực thi các quyền về hải quan, tài chính, nhập cư, kiểm dịch y tế, và trừng phạt vi phạm.

Quốc gia ven biển được thiết lập vùng “đặc quyền kinh tế” (ĐQKT) rộng tối đa 200 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải và thực thi các quyền chủ quyền và tài phán đối với việc thăm dò, khai thác và bảo vệ các nguồn tài nguyên sinh vật trong vùng ĐQKT của mình; đồng thời cho phép các quốc gia không có biển hoặc bất lợi về địa lý được tham gia khai thác một phần dư dôi của các tài nguyên nói trên. Quốc gia ven biển cũng có quyền chủ quyền và tài phán đối với một số hoạt động kinh tế khác, bao gồm cả hoạt động nghiên cứu khoa học và bảo vệ môi trường. Các quốc gia khác có quyền tự do hàng hải và hàng không, tự do đặt dây cáp và đường ống dẫn ngầm trong vùng ĐQKT.

Quốc gia ven biển có quyền chủ quyền về thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên tại vùng thềm lục địa (TLĐ) của mình, với chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở lãnh hải, hoặc có thể mở rộng hơn tại những nơi ranh giới ngoài của thềm lục đia kéo dài quá 200 hải lý, nhưng tối đa không quá 350 hải lý và phải được sự chấp thuận của Ủy ban Ranh giới thềm lục địa (được thành lập theo Phụ lục II trong Công ước Luật Biển 1982), đồng thời phải chia sẻ với cộng đồng quốc tế 1 phần lợi tức thu được từ việc khai thác tài nguyên ở khu vực TLĐ mở rộng nói trên.

2. Quy chế các vùng biển nằm ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia, bao gồm 2 chế độ pháp lý khác nhau: (a) Vùng “biển quốc tế” (áp dụng đối với cột nước phía trên đáy biển) theo qui chế “tự do biển cả”; (b) Khu vực “đáy đại dương” (gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển) tài nguyên khoáng sản ở đó được coi là tài sản chung của nhân loại.

a) Qui chế vùng “biển quốc tế” (biển cả):

Trên cơ sở nguyên tắc tập quán lâu đời về “quyền tự do biển cả”, Công ước qui định tất cả các quốc gia đều có quyền tự do về hàng hải và hàng không, tự do đặt dây cáp và đường ống dẫn ngầm, tự do nghiên cứu khoa học biển và đánh cá trên các vùng biển quốc tế; đồng thời có nghĩa vụ tôn trọng lợi ích của các quốc gia khác, đảm bảo an toàn hàng hải, hợp tác chống tội phạm (cướp biển, buôn bán ma túy, chuyên chở chất độc hại).

Các vùng “biển quốc tế” phải được sử dụng vì mục đích hòa bình và không một quốc gia nào có quyền đòi hỏi chủ quyền đối với bất cứ bộ phận nào thuộc vùng biển quốc tế (điều 88 - 89).

Các quốc gia có nghĩa vụ ngăn chặn và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển và phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại gây ra do vi phạm nghĩa vụ quốc tế của mình.

Tất cả mọi quốc gia phải thực hiện các biện pháp bảo vệ nguồn tài nguyên sinh vật biển (không chỉ ở các vùng biển quốc tế mà ngay tại các vùng biển thuộc chủ quyền và tài phán của quốc gia ven biển) và hợp tác cùng nhau hoặc thông qua các tổ chức quốc tế và khu vực nhằm bảo tồn và phát triên nguồn tài nguyến sinh vật biển, bảo vệ đa dạng sinh học, chống khai thác quá mức, và có các biện pháp ngăn cấm công dân của họ vi phạm các qui định về bảo tồn sinh vật biển.

b) Qui chế khu vực “đáy đại dương”:

“Đáy đại dương” và nguồn tài nguyên vô cùng to lớn trên bề mặt và dưới lòng đất đáy đại dương, được coi là tài sản chung của toàn nhân loại. Trên cở sở đó, Công ước 1982 đã thiết lập 1 cơ chế pháp lý mới là “Cơ quan quyền lực đáy đại dương” (Seabed Authority) thay mặt các quốc gia thành viên kiểm soát và quản lý việc thăm dò, khai thác tài nguyên theo chế độ chung.

Thành phần chính của Cơ quan Quyền lực bao gồm “Đại hội đồng” với đại diện tất cả các quốc gia thành viên (giống như Đại hội đồng LHQ) và “Hội đồng” với 36 thành viên (nhiệm kỳ 4 năm) và Ban Thư ký do Tổng Thư ký đứng đầu. Ngoài ra còn có Uỷ ban Tài chính với 15 thành viên do Đại hội đồng bầu. Cơ quan quyền lực còn thành lập 1 pháp nhân gọi là “Xí nghiệp” (Enterprises) đảm nhận các công việc liên quan đến hoạt động khai thác và kinh doanh các sản phẩm khai thác được từ đáy đại dương.

Các qui định về chế độ khai thác tài nguyên trong “Khu vực”, chức năng và cơ chế hoạt động của “Cơ quan quyền lực” (Đại hội đồng, Hội đồng và Ban thư ký), nghĩa vụ và trách nhiệm của các quốc gia và “Xí nghiệp” khi tham gia và tiến hành khai thác… được qui định chi tiết trong Phần XI của Công ước. Thỏa thuận bổ sung năm 1994 giữa 2 nhóm nước phát triển và đang phát triển về thực hiện phần XI của Công ước có thay đổi một số qui định liên quan đến quy chế pháp lý của đáy biển quốc tế, đáp ứng yêu cầu của các nước phát triển, mở đường cho việc họ phê chuẩn Công ước.

3. Qui định về hợp tác và giải quyết hòa bình các tranh chấp biển:

Nguyên tắc nền tảng của Công ước Luật Biển 1982 là các quốc gia thành viên phải hợp tác giải quyết mọi tranh chấp về giải thích và áp dụng các điều khoản của Công ước bằng các biện pháp hòa bình theo đúng Điều 2, Khoản 3 của Hiến chương LHQ, với các thủ tục nêu tại Điều 33, Khoản 1 của Hiến chương.

Cần lưu ý rằng cơ chế giải quyết tranh chấp theo UNCLOS chỉ áp dụng đối với tranh chấp tồn tại giữa các quốc gia về phương diện giải thích và áp dụng Công ước (Điều 279 và 288); các tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ lại theo cơ chế khác qui định trong Hiến chương LHQ.

Việc đưa vào Công ước 1982 các điều khoản bắt buộc về giải quyết tranh chấp biển được coi là một bước tiến lớn của Luật quốc tế, cho phép một quốc gia có thể đơn phương đưa tranh chấp ra giải quyết theo thủ tục hòa giải, trọng tài hoặc tòa án (Tòa án Luật Biển).

Thực tế, Công ước đã xây dựng được một cơ chế giải quyết tranh chấp với nhiều tầng nấc, vừa bảo đảm quyền tự do lựa chọn của các bên về biện pháp, cơ quan giải quyết tranh chấp, vừa tạo điều kiện thúc đẩy quá trình giải quyết tranh chấp.

Bên cạnh đó, Công ước cũng đòi hỏi các quốc gia có bờ biển tiếp giáp hoặc đối diện nhau phải tiến hành đàm phán phân định ranh giới lãnh hải, vùng ĐQKT và TLĐ trên cơ sở luật pháp quốc tế và điều 38 của Qui chế Tòa án Công lý Quốc tế nhằm đi đến một giải pháp công bằng. Nếu không đạt được giải pháp trong một thời gian hợp lý, các bên sẽ sử dụng các thủ tục qui định tại phần XV của Công ước; đồng thời có thể cố gắng tìm kiếm giải pháp tạm thời trên tinh thần hiểu biết và hợp tác; nhưng không làm ảnh hưởng tới giải pháp cuối cùng. Như vậy, có thể nói cơ chế giải quyết tranh chấp của Công ước 1982 đã đi tiên phong trong việc quy định quyền đơn phương khởi kiện của các quốc gia thành viên ra một cơ quan tài phán quốc tế.

Công ước cũng yêu cầu các quốc gia nằm trong khu vực biển kín hoặc nửa kín phải hợp tác cùng nhau trong việc quản lý nguồn tài nguyên sinh vật cũng như trong các chính sách và hoạt động về môi trường và nghiên cứu khoa học. Các quốc gia không có biển được quyền tiếp cận với biển và được tự do quá cảnh ra biển thông qua nước ven biển.

UNCLOS 1982 - Văn kiện pháp lý đồ sộ về hòa bình và phát triển bền vững biển, đại dươngUNCLOS 1982 đã trở thành cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc, quan trọng, để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam trên biển 

Theo Tiến sĩ Vũ Hải Đăng, chuyên gia cao cấp về luật và chính sách đại dương thuộc Trung tâm luật quốc tế-Đại học Quốc gia Singapore, Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS), được ký kết vào ngày 10/12/1982, là khuôn khổ pháp lý toàn cầu bao trùm và quan trọng nhất để điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của tất cả các quốc gia trên biển.

Công ước được coi như bản hiến pháp về đại dương, quy định về các hoạt động trên biển từ xác định chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia trên biển; phân định biển, khai thác các tài nguyên sinh vật và phi sinh vật biển, bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, đến thực thi pháp luật trên biển và giải quyết các tranh chấp liên quan đến biển.

Việc Công ước được 167 quốc gia và Liên minh châu Âu phê chuẩn, trong đó có cả những quốc gia không có biển như Lào, Mông Cổ hay Thụy Sỹ, cho thấy các quy định của Công ước được cộng đồng quốc tế công nhận một cách rộng rãi.

Theo Tiến sĩ Vũ Hải Đăng, do UNCLOS 1982 là khuôn khổ pháp lý cho tất cả hoạt động trên biển của các quốc gia, nên Công ước này thường xuyên được viện dẫn và áp dụng để giải quyết các tranh chấp liên quan tới biển trên thế giới.

Nguyên tắc quan trọng nhất về giải quyết tranh chấp mà UNCLOS đưa ra là mọi tranh chấp phải được giải quyết bằng các biện pháp hòa bình, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc.

Tiến sĩ Vũ Hải Đăng nêu rõ UNCLOS 1982 là cơ sở pháp lý để các bên xây dựng yêu sách về vùng biển của mình, phân định các vùng biển chống lấn và tiến hành các hoạt động hợp tác trong các khu vực có tranh chấp.

Việc thực thi Công ước sẽ làm giảm thiểu các khu vực chồng lấn và quản lý các tranh chấp một hiệu quả hơn, tránh gia tăng căng thẳng trong khu vực. Tiến sỹ Vũ Hải Đăng nhắc lại Việt Nam là nước đồng sáng lập Nhóm bạn bè của UNCLOS 1982 vào tháng 6/2021.

Từ 12 quốc gia sáng lập đến nay, nhóm đã có 115 thành viên, đại diện cho tất cả các khu vực địa lý trên thế giới trong đó có tất cả 5 ủy viên thường trực Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc và nhiều quốc gia ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Trong thời gian qua, Nhóm bạn bè của UNCLOS đã tổ chức định kỳ hằng quý các buổi họp nhóm để thảo luận các vấn đề xung quanh việc thực thi UNCLOS, vai trò của UNCLOS trong quản trị biển và đại dương, cũng như các vấn đề liên quan đến biển và đại dương khác như bảo tồn và phát triển bền vững biển, bảo vệ môi trường biển, biến đổi khí hậu, mực nước biển dâng, nghề cá, tội phạm trên biển...

Vai trò quan trọng nhất của Nhóm bạn bè UNCLOS là thúc đẩy, tăng cường nhận thức của cộng đồng quốc tế về vai trò quan trọng của UNCLOS như là khuôn khổ pháp lý toàn diện điều chỉnh mọi hoạt động của tất cả các quốc gia trên biển.

Các hoạt động của nhóm cũng sẽ góp phần thúc đẩy sự thượng tôn của luật pháp quốc tế và là một kênh hữu ích trong việc trao đổi, thảo luận giữa các quốc gia về các vấn đề liên quan đến biển và đại dương.

Đề cập tình hình Biển Đông, Tiến sĩ Vũ Hải Đăng đánh giá Tuyên bố ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC), ký kết ngày 4/11/2002 tại Phnom Penh, Vương quốc Campuchia, là thành quả của quá trình đàm phán giữa ASEAN và Trung Quốc nhằm đạt được Bộ quy tắc về ứng xử của các bên tại Biển Đông (COC).

DOC và COC là cơ chế chính thức duy nhất giữa ASEAN và Trung Quốc nhằm trao đổi, thảo luận chuyên sâu về Biển Đông. Việc ASEAN và Trung Quốc mất nhiều thời gian để đàm phán các nội dung của COC cho thấy các bên muốn đạt được một kết quả thực chất.

Việt Nam luôn đề cao tôn chỉ, mục tiêu và các nguyên tắc của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982

Là quốc gia ven biển có đường bờ biển dài trên 3.200 km, với diện tích vùng biển thuộc quyền chủ quyền và tài phán của mình rộng gần gấp 3 lần lãnh thổ đất liền, cùng với khoảng 3.000 hòn đảo ven bờ và 2 quần đảo ngoài khơi là Hoàng Sa và Trường Sa, biển giữ vai trò vô cùng quan trọng về kinh tế cũng như an ninh quốc phòng đối của đất nước.

Ngay sau khi nước Việt Nam thống nhất trở thành thành viên của LHQ, Việt Nam đã tích cực tham gia Hội nghị Luật Biển lần thứ ba của LHQ và là một trong 107 quốc gia tham gia ký Công ước tại Montego Bay ngày 10/12/1982.

Trước đó, ngay từ ngày 12/5/1977, Chính phủ Việt Nam đã ra “Tuyên bố về lãnh hải và vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa của Việt Nam”, tạo cơ sở cho đoàn khẳng định rõ lập trường tại hội nghị và trong đàm phán phân định biển với các nước láng giềng trong giai đoạn sau này.

Ngày 23/6/1994, Việt Nam là quốc gia thứ 63 phê chuẩn Công ước, trước khi Công ước chính thức có hiệu lực vào tháng 12/1994. Nghị quyết phê chuẩn của Quốc hội đã khẳng định, bằng việc phê chuẩn Công ước, Việt Nam biểu thị quyết tâm cùng cộng đồng quốc tế xây dựng một trật tự pháp lý công bằng, khuyến khích sự phát triển và hợp tác trên biển.

Quốc hội đã khẳng định chủ quyền và quyền tài phán của Việt Nam đối với các vùng nội thủy, lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng ĐQKT, thềm lục địa của Việt Nam, cùng vời hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, trên cơ sở các quy định của Công ước và các nguyên tắc của pháp luật quốc tế, yêu cầu các nước khác tôn trọng các quyền nói trên của Việt Nam.

Quốc hội đồng thời cũng tuyên bố lập trường của nhà nước Việt Nam là giải quyết hòa bình các bất đồng liên quan đến Biển Đông trên tinh thần bình đẳng, hiểu biết và tôn trọng lẫn nhau, tôn trọng pháp luật quốc tế. Trong khi nỗ lực thúc đẩy đàm phán để tìm giải pháp cơ bản lâu dài, các bên liên quan cần duy trì hòa bình, ổn định trên cơ sở giữ nguyên hiện trạng, không có hành động làm phức tạp thêm tình hình, không sử dụng vũ lực hoặc đe dọa sử dụng vũ lực.

Việt Nam đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trong nước để cụ thể hóa các quy định của Công ước trong nhiều lĩnh vực như biên giới lãnh thổ, hàng hải, thủy sản, dầu khí, bảo vệ môi trường biển và hải đảo; bao gồm cả việc ban hành “Luật Biển Việt Nam” năm 2012.

UNCLOS 1982 đã trở thành cơ sở pháp lý quốc tế vững chắc, quan trọng, để bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam trên biển. Công ước Luật Biển 1982 cũng là công cụ phục vụ cho việc đàm phán phân định vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa Việt Nam với các nước láng giềng (bao gồm Campuchia, Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Trung Quốc) và góp phần tạo dựng tạo môi trường ổn định, hòa bình, hợp tác và phát triển trong khu vực Biển Đông.

Trong năm 2009, thực hiện nghĩa vụ quy định trong Công ước, Việt Nam đã đệ trình lên “Ủy ban Ranh giới Thềm lục địa của LHQ” ranh giới ngoài mở rộng của thềm lục địa Việt Nam ở khu vực phía Bắc Biển Đông; đồng thời, Việt Nam đã cùng Malaysia đệ trình chung lên Ủy ban này ranh giới ngoài của khu vực thềm lục địa mở rộng tại phía Nam Biển Đông, nơi hai nước có thềm lục địa chồng lấn chưa phân định.

Tóm lại, việc ký kết Công ước Luật Biển cách đây 40 năm là một dấu mốc lịch sử trong quá trình phát triển của luật quốc tế, tạo ra khung pháp lý toàn diện giúp duy trì hòa bình, ổn định, thúc đẩy hợp tác giữa các quốc gia trên thế giới cũng như sự phát triển bền vững của đại dương. Tầm quan trọng của Công ước và giá trị phổ quát của việc thực thi Công ước ngày càng được LHQ và các nước đề cao trên nhiều lĩnh vực khác nhau, thực tế đã trở thành cơ sở pháp lý cho mọi hành động cũng như hợp tác ở cấp độ quốc gia, khu vực và toàn cầu; do có tầm quan trọng chiến lược, tính thống nhất, toàn vẹn của Công ước.

Là một quốc gia ven biển, một thành viên tích cực và có trách nhiệm, Việt Nam luôn khẳng định Công ước 1982 là một trong những quy định của luật pháp quốc tế đóng vai trò then chốt trong việc quản lý, phát triển kinh tế biển quốc gia; đồng thời, là cơ sở để Việt Nam giải quyết hòa bình các tranh chấp biển với các quốc gia láng giềng, hướng tới việc quản trị Biển Đông hòa bình, bền vững.

UNCLOS 1982 - Văn kiện pháp lý đồ sộ về hòa bình và phát triển bền vững biển, đại dươngPhó Phát Ngôn Bộ Ngoại giao Phạm Thu Hằng 

Ngày 10/12, trả lời câu hỏi của phóng viên đề nghị cho biết bình luận của Việt Nam nhân dịp kỷ niệm 40 năm Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, Phó Phát ngôn Bộ Ngoại giao Việt Nam Phạm Thu Hằng khẳng định:

Sự ra đời của Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982 – “Hiến pháp về biển và đại dương” – là sự kiện quan trọng, có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tiến bộ của luật pháp quốc tế nói chung và luật biển quốc tế nói riêng. Trong 40 năm qua, Công ước luôn đóng vai trò là khuôn khổ pháp lý quốc tế toàn diện và đầy đủ, là cơ sở pháp lý cho mọi hoạt động quản lý và sử dụng biển và đại dương.

Với tinh thần thượng tôn pháp luật, là thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, là thành viên tích cực của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, Việt Nam luôn đề cao tôn chỉ, mục tiêu và các nguyên tắc của Công ước, nghiêm túc tuân thủ và thực thi Công ước, kiên trì giải quyết các bất đồng trên biển bằng biện pháp hoà bình, phù hợp với luật pháp quốc tế, trong đó có Công ước Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982; tích cực tham gia, đóng góp nhiều sáng kiến cho các hoạt động trong khuôn khổ các thiết chế được thành lập theo Công ước, được cộng đồng quốc tế ghi nhận.

Đồng thời, Việt Nam cũng đẩy mạnh hoàn hiện hệ thống pháp luật trong nước về quản lý và sử dụng biển trên cơ sở phù hợp với Công ước; thúc đẩy hợp tác quốc tế trên biển trên cơ sở quy định của Công ước và các Mục tiêu phát triển bền vững của Liên hợp quốc năm 2015.

Nhân dịp này, Việt Nam nhấn mạnh các quốc gia cần tiếp tục tôn trọng và thực thi đầy đủ các nghĩa vụ của mình theo Công ước và luật pháp quốc tế, cùng nhau hợp tác, đóng góp tích cực, thiết thực vào việc duy trì hoà bình, ổn định, trật tự pháp lý trên biển, an toàn và tự do hàng hải và hàng không, thúc đẩy phát triển bền vững biển và đại dương.

Cơ chế giải quyết tranh chấp UNCLOS 1982 trù định ngày càng cho thấy tính ưu việt

Trả lời phỏng vấn báo chí tại Geneva, Tiến sĩ, Đại sứ Nguyễn Hồng Thao, thành viên Ủy ban Luật quốc tế của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2027 nhấn mạnh Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển (UNCLOS) được ký kết ngày 10/12/1982, đánh dấu lần đầu tiên thiết lập một bộ quy tắc cho các hoạt động biển và đại dương, xây dựng trật tự pháp lý mới trên biển đầy tiềm năng.

UNCLOS 1982 - Văn kiện pháp lý đồ sộ về hòa bình và phát triển bền vững biển, đại dươngTiến sĩ, Đại sứ Nguyễn Hồng Thao, thành viên Ủy ban Luật quốc tế của Liên hợp quốc nhiệm kỳ 2023-2027 khẳng định UNCLOS 1982 là cơ chế hữu hiệu để giải quyết hòa bình các tranh chấp biển 

Thực tiễn triển khai Công ước trong đời sống quốc tế đã cho thấy UNCLOS 1982 là cơ chế hữu hiệu để giải quyết hòa bình các tranh chấp biển.

Sự tiến bộ của luật quốc tế

Đại sứ Nguyễn Hồng Thao khẳng định Công ước thể hiện cao nhất tính pháp điển hóa tập quán quốc tế và sự phát triển tiến bộ của luật quốc tế trong lĩnh vực biển.

Dựa trên nguyên tắc "Đất thống trị Biển", UNCLOS 1982 lần đầu tiên đưa ra các khái niệm xác định thềm lục địa, lãnh hải, vùng tiếp giáp, vùng đặc quyền kinh tế, vùng biển quốc tế... qua đó xác định chủ quyền về mặt kinh tế, quyền tài phán của các quốc gia ven biển.

Điều 87 của Công ước nêu rõ: “Biển cả được để ngỏ cho tất cả các quốc gia, dù có biển hay không có biển” cùng với định nghĩa vùng đáy biển là di sản chung của loài người. UNCLOS 1982 cũng là cơ sở để các bên tiếp tục đàm phán khung pháp lý điều chỉnh bảo tồn và khai thác bền vững đa dạng sinh học tại các vùng biển nằm ngoài phạm vi quyền tài phán của các quốc gia.

Bộ quy tắc cho các hoạt động biển và đại dương được đề ra trong UNCLOS 1982 cũng giúp thiết lập và thúc đẩy cơ chế quản lý và bảo tồn tài nguyên biển, bảo vệ môi trường biển một cách đồng bộ và hiệu quả dựa trên hệ sinh thái.

Một trong những đóng góp lớn nhất của UNCLOS 1982 là việc thiết lập cơ chế mới hữu hiệu về giải quyết các tranh chấp biển.

Theo Đại sứ Nguyễn Hồng Thao, UNCLOS 1982 đã đặt nền móng cho giải quyết các tranh chấp biển từ phân định biển, tranh chấp nghề cá, hàng hải, nghiên cứu khoa học biển, đặt cáp và ống dẫn ngầm đến các tranh chấp hoạt động biển khác.

Cơ chế giải quyết tranh chấp mà Công ước trù định ngày càng cho thấy tính ưu việt.

Đến nay, khoảng hơn 1/3 trong tổng số 500 các vùng biển chồng lấn đã được giải quyết. Lần đầu tiên cơ chế giải quyết tranh chấp bắt buộc thông qua hòa giải và trọng tài bắt buộc đã được thông qua và áp dụng trên thực tế.

Công ước là điều lệ thành lập các tổ chức quốc tế riêng về biển như Tòa Trọng tài quốc tế về Luật biển (ITLOS), Ủy ban ranh giới thềm lục địa (CICS) và Cơ quan quyền lực Đáy đại dương. Các cơ quan này đã góp phần duy trì sự tuân thủ các quy định của Công ước trên các vùng biển đặc thù.

Việt Nam sử dụng đa dạng công cụ giải quyết tranh chấp

Đại sứ Nguyễn Hồng Thao cho biết trên tinh thần tuân thủ các quy định của Công ước, Việt Nam là nước thành công nhất trong khu vực giải quyết các tranh chấp biển với các công cụ đa dạng nhất.

Việt Nam đã áp dụng sáng tạo nguyên tắc công bằng trong phân định đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với Thái Lan năm 1997, Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc 2000, phân định thềm lục địa với Indonesia năm 2003; phương thức hợp tác cùng phát triển và hợp tác khai thác chung về nghề cá với Trung Quốc trong Vịnh Bắc Bộ 2004, với Malaysia năm 1995, Campuchia năm 1982 và đang tiếp tục đàm phán giải quyết phân định biển ở khu vực ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ hay phân định đặc quyền kinh tế với Indonesia.

Việt Nam ủng hộ quyền tài phán của Tòa trọng tài thành lập theo Phụ lục VII của Công ước trong vụ Philippines kiện Trung Quốc ở Biển Đông năm 2016 và thể hiện sẵn sàng áp dụng mọi biện pháp giải quyết hòa bình các tranh chấp biển ở Biển Đông với các nước láng giềng.

Các quy định và tinh thần của Công ước 1982 cũng được thể hiện rõ trong quá trình xây dựng và thực thi Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông (DOC) và quá trình đàm phán Bộ quy tắc ứng xử của các bên (COC) ở Biển Đông.

Việt Nam và Đức là hai nước đồng sáng lập Nhóm bạn bè của UNCLOS 1982 vào tháng 6/2021.

Sáng kiến này đã được 10 nước khác đồng bảo trợ và đến nay đã có gần 100 nước tham gia.

Theo Đại sứ Nguyễn Hồng Thao, Nhóm bạn bè của UNCLOS 1982 sẽ giúp có cái nhìn toàn diện hơn về UNCLOS từ các nơi trên thế giới.

Khuôn khổ này sẽ giúp các nước tìm hiểu xu thế, triển khai tập hợp lực lượng, đấu tranh vì những giá trị pháp lý công bằng mà UNCLOS mang lại.

UNCLOS 1982 tạo ra một hệ thống luật bình đẳng, có ý nghĩa quan trọng đối với các nước nhỏ

Chia sẻ với báo chí, ông Gregory Poling, Giám đốc Chương trình Đông Nam Á và Sáng kiến minh bạch hàng hải châu Á (AMTI) thuộc Trung tâm Nghiên cứu chiến lược và quốc tế (CSIS), một trong những chuyên gia hàng đầu của Mỹ về Biển Đông đã đề cao vai trò của Công ước Liên hợp quốc về Luật biển (UNCLOS) 1982 đối với các nước nhỏ và đang phát triển.

UNCLOS 1982 - Văn kiện pháp lý đồ sộ về hòa bình và phát triển bền vững biển, đại dươngÔng Gregory Poling đề cao vai trò của UNCLOS 1982 đối với các nước nhỏ và đang phát triển 

Theo ông Poling, văn kiện này có ý nghĩa quan trọng vì hai lý do chính.

Thứ nhất, UNCLOS 1982 tạo ra một hệ thống bình đẳng hơn cho tất cả các quốc gia trong việc tiếp cận và quản lý các nguồn tài nguyên biển cũng như được hưởng các quyền của mình. Văn kiện đã mang lại cho các nước đang phát triển và các quốc gia ven biển một tiếng nói lớn hơn, ít nhất là ở khu vực Biển Đông.

Thứ hai, UNCLOS 1982 là hiệp ước quốc tế được chấp nhận rộng rãi nhất sau Hiến chương Liên hợp quốc. Mọi thành viên trong hệ thống quốc tế đều có vai trò trong việc định hình công ước này. Văn kiện này lập kỷ lục thế giới về số quốc gia ký hiệp ước trong một ngày - ngày mở ký chính thức 10/12/1982.

Về vai trò của UNCLOS 1982 trong việc giải quyết tranh chấp biển ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, chuyên gia Polling cho rằng văn kiện này đã đặt ra những giới hạn cho những tranh chấp, đồng thời tạo ra một quy tắc thống nhất về cách thức thực hiện các yêu sách hàng hải.

UNCLOS 1982 đặt ra giới hạn về những gì các quốc gia có thể tuyên bố chủ quyền để các tranh chấp có giới hạn rõ ràng (quy định rõ về ranh giới lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa).

Hầu hết các quốc gia hiện nay đã xác định rất rõ vùng lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của mình. Văn kiện này đã làm cho việc giải quyết các tranh chấp khả thi hơn và buộc các quốc gia phải làm rõ các yêu sách trong nhiều trường hợp./.

(Q.Đ tổng hợp)

Top