tìm kiếm

Trang nhất > Thời sự

Thứ Hai, 23/10/2017 | 11:01:44 GMT+7
Xây dựng dự thảo Nghị định bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia

Theo đó, Dự thảo áp dụng cho đối tượng là các Cơ quan chuyên trách bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia; Cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến hoạt động bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia của Việt Nam.

21/04/2017 04:51:00

Theo đó, Dự thảo áp dụng cho đối tượng là các Cơ quan chuyên trách bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia; Cơ quan, tổ chức, công dân Việt Nam; tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến hoạt động bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia của Việt Nam.

Về nguyên tắc bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia: Tôn trọng, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia góp phân phát triển kinh tế - xã hội của đất nước;  Việc áp dụng các biện pháp bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia phải tuân thủ quy định của Nghị định này và các quyđịnh khác của pháp luật có liên quan. Không được lợi dụng việc thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia để xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức; của cá nhân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủnghĩa Việt Nam; Bảo đảm sự phân công, phân cấp rõ ràng và phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan có thẩm quyền, trách nhiệm, các cơ quan, tổchức và cá nhân có liên quan trong bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia; Cơ quan, tổ chức, công dân nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; cá nhân, tổ chức nước ngoài, tổ chức quốc tế cư trú, hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có trách nhiệm tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh các yêu cầu của cơ quan chuyên trách bảođảm an ninh không gian mạng quốc gia.

Xây dựng dự thảo Nghị định bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia - 1

Về  không gian mạng quốc gia là mạng lưới kết nối toàn cầu của các cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, bao gồm: mạng Internet, mạng viễn thông, hệ thống máy tính, hệ thống xử lý và điều khiển thông tin được Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam xác lập phạm vi quản lý, kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp bằng chính sách, pháp luật và năng lực công nghệ.

Về hoạt động xâm phạm an ninh không gian mạng quốc gia là hành vi sử dụng không gian mạng xâm phạm chủquyền quốc gia, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, an ninh, quốc phòng, đối ngoại,độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xâm phạm an ninh thông tin và sự an toàn của hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Về bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia là phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh, xử lý các hoạt động xâm phạm an ninh không gian mạng quốc gia.

Về hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là hệ thống thông tin nếu bị tiến công, phá hoại sẽ làm ảnh hưởng đến an ninh, quốc phòng và ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền kinh tế, chính trị, xã hội, đối ngoại của quốc gia.

Cơ quan chuyên trách bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia bao gồm: cơ quan chuyên trách bảo đảm an ninh không gian mạng thuộc Bộ Công an; cơ quan chuyên trách bảo đảm an ninh không gian mạng thuộc Bộ Quốc phòng.

Đối với hợp tác quốc tế về bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia: Tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ quốc gia, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi; Phù hợp với quy định của pháp luật Việt Nam,điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên. Nội dung hợp tác quốc tế về bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia gồm: Hợp tác quốc tế trong đào tạo, nghiên cứu vàứng dụng khoa học, kỹ thuật, công nghệ về bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia; Hợp tác quốc tế trong phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, đấu tranh, xử lý các hoạt động xâm phạm an ninh không gian mạng quốc gia; Hoạt động hợp tác quốc tế khác về bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia.

Theo dự thảo Nghị định đưa ra 9 Nội dung phòng ngừa hoạt động xâm phạm an ninh không gian mạng quốc gia, cụ thể đó là: Tuyên truyền, giáo dục về bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia; Công bố tiêu chuẩn quốc gia về bảo đảm an ninh hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; Thanh tra, kiểm tra, đánh giá công tác bảo đảm an ninh hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; Chứng nhận hợp chuẩn bảo đảm an ninh hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; Kiểm tra, phát hiện, yêu cầu cơ quan, tổ chức, cá nhân khắc phục điểm yếu, lỗ hổng bảo mật của hệ thống thông tin là mục tiêu của hoạt động xâm phạm an ninh không gian mạng quốc gia; Giám sát, cảnh báo, ứng cứu, khắc phục sự cố xảy ra đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Thiết lập tường lửa, sử dụng thiết bị bảo mật, phần mềm, công cụ kỹ thuật để ngăn chặn, hạn chế truy cập tới các vùng thông tin do Nhà nước quản lý khi có yêu cầu; Tổ chức nghiên cứu khoa học, giải pháp, công nghệ, thử nghiệm, ứng dụng, sản xuất, cung cấp hệ thống bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia;, Thu hút, giáo dục, bồi dưỡng, đãi ngộ nguồn nhân lực chất lượng cao về công nghệ thông tin, chuyên gia an ninh mạng thực hiện nhiệm vụ bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia; Bảo đảm trang bị cho cơ quan chuyên trách bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia.

Cũng theo dự thảo nghị định, để 9 nội dung nói trên có hiệu quả, các cơ quan liên quan như: Bộ Công an, Bộ Thông tin và Truyền thông, các doanh nghiệp cung cấp mạng viễn thông... phải cùng có trách nhiệm thực hiện.

Về tiêu chuẩn quốc gia về bảo đảm an ninh hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia bao gồm các quy định cụ thể nhằm bảo đảm an ninh không gian mạng quốc gia đối với hệ thống thông tin, phần cứng, phần mềm, hệ thống quản lý, vận hành, kết nối, truy cập hệ thống thông tin được công bố, thừa nhận, áp dụng tại Việt Nam. Cơ quan chủ quản hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia có trách nhiệm bảo đảm cho hệ thống thông tin đáp ứng tiêu chuẩn quốc gia về bảo đảm an ninh cho hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Đối với việc xác định hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia: Cơ quan chủ quản hệ thống thông tin chịu trách nhiệm rà soát, xác định hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia thuộc phạm vi quản lý theo quy định tại khoản 4 Điều 3 Nghị định này; lập hồ sơ, đề nghị Bộ Công an, Bộ Quốc phòng thẩmđịnh đưa vào danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia; Bộ Công an chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và truyền thông thẩmđịnh, ban hành danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia. Bộ Quốc phòng chịu trách nhiệm chủ trì, phối hợp với Bộ Thông tin và truyền thông thẩm định, ban hành danh mục hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia thuộc phạm vi, lĩnh vực quản lý của Bộ Quốc phòng./.

Công Đảo