tìm kiếm

Trang nhất > Quan hệ quốc tế

Thứ Ba, 26/05/2020 | 16:31:45 GMT+7
Việt Nam có thể chia sẻ gì với thế giới về cuộc chiến chống Covid

Việt Nam không xét nghiệm đại trà nhưng đã kiểm soát được các ca nhiễm bệnh, thực hiện truy vết tiếp xúc.

19/05/2020 14:50:00

Việt Nam có thể chia sẻ gì với thế giới về cuộc chiến chống Covid  - 1

Tính đến ngày 27/4/2020, Việt Nam có 270 trường hợp dương tính với Covid-19, không có trường hợp tử vong và 222 trường hợp đã được điều trị thành công. Tuy nhiên, số lượng bài báo khen ngợi câu chuyện thành công Covid-19 của Việt Nam trên các phương tiện truyền thông quốc tế ít hơn so với Hàn Quốc, New Zealand và Phần Lan mặc dù dân số Việt Nam là 95,54 triệu người, nhiều hơn cả dân số 03 quốc gia này cộng lại.

Điều này là dễ hiểu bởi Hàn Quốc, New Zealand và Phần Lan từ lâu đã nổi tiếng với các hệ thống y tế hiện đại, trong đó có khả năng xử lý các bệnh truyền nhiễm. Một phần quan trọng khác của câu chuyện là khả năng tài chính. Theo Tổ chức Y tế Thế giới, Hàn Quốc dành 8,1% GDP cho y tế, trong khi đối với Việt Nam là 5,6%. Một thực tế nhiều người công nhận rằng, để có thể tiến hành xét nghiệm Covid-19 đại trà phải có nguồn lực, đặc biệt tài chính và công nghệ, cực kỳ mạnh mẽ.

Điều này nghĩa là Việt Nam không chọn và không đủ khả năng áp dụng phương pháp dựa một phần vào hệ thống y tế tiên tiến và chi tiêu lớn hơn của Hàn Quốc hoặc Đức (quốc gia ứng pho Covid-19 hiệu quả hơn các nước thành viên EU khác). 

Vậy điều gì lý giải thành tựu của Việt Nam trong việc xử lý khủng hoảng? Thành công thường là kết quả của sự kết hợp các yếu tố khác nhau. Tuy nhiên, có một điểm nổi bật trong trường hợp của Việt Nam. Mô hình mà họ sử dụng là mô hình chi phí thấp như ông John Reed đã đề cập trong bài báo gần đây trên tờ The Financial Times. Việt Nam đã không chọn xét nghiệm đại trà, thay vào đó, những người nhiễm bệnh được kiểm soát và thực hiện truy vết tiếp xúc với những người  có thể nhiễm bệnh. Sử dụng các công cụ kỹ thuật số như Bluezone - ứng dụng di động nguồn mở, các quan chức y tế tại Việt Nam có thể dễ dàng định vị và quản lý các nguy cơ tiềm ẩn.

Theo những gì được biết về hệ thống y tế tại Việt Nam, mô hình đó được kết hợp với hai yếu tố ít được biết đến khác. Một là niềm tin lâu dài và đầu tư toàn diện vào y tế dự phòng. Trong lĩnh vực công ở Việt Nam, phương châm phòng bệnh hơn chữa bệnh là rất phổ biến. Trên thực tế, Việt Nam đang vận hành song song 02 hệ thống, phòng ngừa và điều trị ở tất cả các tỉnh và địa phương. Cách tiếp cận tổng thể là y tế toàn dân. Trẻ em Việt Nam đều được tiêm  các loại vắc-xin khác nhau.

Yếu tố còn lại là các tổ chức y tế đáng tin cậy của Việt Nam, cả ở cấp độ học thuật và thực tiễn. Chẳng hạn, theo báo cáo của Global Go to Think Tank Index 2019 của Đại học Pennsylvania, Trung tâm Nghiên cứu Hệ thống Y tế - Đại học Y Hà Nội được xếp hạng thứ 24 trong bảng xếp hạng các tổ chức nghiên cứu hàng đầu thế giới về chính sách y tế quốc gia. Về mặt thực tiễn, bằng chứng xác thực là các bác sĩ Việt Nam có rất nhiều cơ hội để áp dụng những gì họ học được vào các tình huống thực tế do một số lượng lớn bệnh nhân nhập viện. Một số bác sĩ từ Indonesia, Malaysia, Philippines và Nhật Bản chọn các bệnh viện Việt Nam để trau dồi kỹ năng của họ. Một lưu ý khác, bộ dụng cụ xét nghiệm Covid-19 sản xuất tại Việt Nam đã được công nhận theo Quy trình Danh sách sử dụng khẩn cấp (EUL) của WHO và đáp ứng các tiêu chuẩn của EU.

Những nỗ lực chung của Việt Nam trong cuộc chiến chống Covid-19 đã giành được lời khen ngợi từ WHO. Ông Takeshi Kasai, Giám đốc khu vực của WHO ở Tây Thái Bình Dương nói rằng, Việt Nam kiểm soát được lây nhiễm virus Corona nhờ lãnh đạo mạnh mẽ của chính phủ và sự hợp tác của người dân.

Trên thực tế, chính phủ Việt Nam không có ý định quảng cáo thành công của mình, mà họ cẩn trọng cho đó mới là thành công ban đầu, “những nguy hiểm nghiêm trọng vẫn còn ở phía trước”. Mô hình của họ không phải để xuất khẩu, mà là sử dụng ở trong nước. Hai ưu tiên hàng đầu là an toàn, sức khoẻ của người dân và duy trì sự năng động về kinh tế. Ưu tiên đầu tiên, như tuyên bố của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc, là nền tảng cho mọi thứ. Trong khi đó, ưu tiên thứ hai là đảm bảo nguồn lực bền vững. Nhìn từ Hà Nội, với tốc độ tăng trưởng 7,02% năm 2019, các nhà hoạch định chính sách muốn giữ động cơ vận hành vào thời điểm Việt Nam đang cố gắng thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình. Tuy nhiên, Covid-19 là phép thử mới, do đó, ưu tiên số một để kinh tế có thể phát triển là vượt qua thách thức y tế này. 

Bên cạnh việc tập trung trong nước, ngoại giao Việt Nam cũng vươn ra thế giới, một lần nữa, không phải để nổi tiếng hay đánh bóng hình ảnh. Một nguyên tắc chỉ đạo gần đây trong chính sách đối ngoại của Việt Nam là trở thành thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế. Trong thế giới liên kết chặt chẽ này, trong nhiều trường hợp, cho đi cũng quan trọng như nhận được. Đó là lý do tại sao Việt Nam tặng khẩu trang cho Ấn Độ, Trung Quốc, Mỹ, EU, Nhật Bản và các nước láng giềng. Việt Nam cũng đã chứng tỏ là thành viên nghiêm túc của nhiều tổ chức khu vực và quốc tế, cả thời kỳ hòa bình và khủng hoảng. Với tư cách là Chủ tịch ASEAN năm nay, Việt Nam đã nhanh chóng triệu tập các cuộc họp để thảo luận và phối hợp hành động về Covid-19. Một ví dụ khác là khoản quyên góp 50.000 USD cho Tổ chức Y tế thế giới.

Một Việt Nam chủ động hơn trên trường quốc tế có thể phù hợp với mô hình của một cường quốc tầm trung mới nổi như mô hình do Viện Lowy (Australia) xây dựng. Các quốc gia ở giữa các cường quốc lớn và các cường quốc nhỏ; ủng hộ chủ nghĩa đa phương cả về xây dựng lẫn tôn trọng nguyên tắc có thể được xếp loại là các cường quốc tầm trung. Việt Nam không tự nhận như vậy trong tường thuật chính thức, mà là từ góc độ nghiên cứu, việc nhận biết một quốc gia có thể làm gì và nên làm gì là hữu ích cho việc tái định vị. Trường hợp của Covid-19 là một ví dụ mạnh mẽ về vấn đề này.

Việt Nam có thể tìm thấy rất nhiều đặc tính này ở Ấn Độ. Mặc dù là quốc gia lớn hơn nhưng Ấn Độ cùng chia sẻ ý tưởng tham gia tích cực và có trách nhiệm cùng thế giới với tư cách là đối tác chiến lược.

(Thu Hà dịch)