tìm kiếm

Trang nhất > Kinh tế thế giới

Thứ Sáu, 21/06/2019 | 03:46:39 GMT+7
Thăng trầm kinh tế Việt Nam 2018

Diễn đàn kinh tế Đông Nam Á vừa qua đăng bài nhận định: Với dự đoán băn đầu tăng trưởng GDP thế giới cao nhất đạt 3,1%, năm 2018 xem như là một năm thành tựu với kinh tế Việt Nam.

02/01/2019 11:22:00

Thăng trầm kinh tế Việt Nam 2018 - 1

Ngay từ Quý I, GDP Việt Nam đạt 7,4% nhờ xuất khẩu, chế xuất và nông nghiệp tăng trưởng tốt. Lĩnh vực dịch vụ cũng có mức tăng trưởng mạnh mẽ về cầu nội địa và du lịch. Tuy nhiên, về giữa năm, kinh tế thế giới chứng kiến nhiều bất ổn đáng lo ngại, nhất là mối đe dọa từ chiến tranh thương mại giữa Trung và Mỹ.


Về ngắn hạn, Việt Nam hưởng lợi từ việc dịch chuyển chuỗi cung ứng khỏi Trung Quốc với điều kiện khu vực tư trong nước đủ năng động để đáp ứng sự gia tăng nhanh chóng về nhu cầu từ bên ngoài. Chẳng hạn như, Foxconn – nhà sản xuất đồ điện tử lớn nhất thế giới và là nhà cung cấp chính cho Apple  - đang nỗ lực thành lập cơ sở tại Việt nam. Những nhà sản xuất khác cũng được thông tin đang có kế hoạch tương tự.


Về dài hạn, các tác động này có vẻ ít chắc chắn hơn với việc các siêu cường ngày càng đi xa khỏi hệ thống thương mại toàn cầu hoạt động dựa trên quy định dường như sẽ mang lại lợi ích cho các nền kinh tế mở cửa có quy mô nhỏ hơn như Việt Nam.


Bất chấp các thách thức nói trên, nhìn chung kinh tế Việt Nam tiếp tục hồi phục chậm. Tăng cường GDP được dự tính đạt quanh mốc 6,8%, lạm phát khoản 4% và ngân sách dự kiến thặng dư ở mức 2,2 phần trăm GDP. Tiền lương thực tế tăng 3,2% trong nửa đầu năm 2018 và tỷ lệ thất nghiệp được báo cáo vẫn ở mức 2,2%.


Tăng trưởng tín dụng trong nửa cuối năm 2018 vừa phải ở mức khoảng 17%, so với 19,5% cùng kỳ năm ngoái. Nhưng tỷ lệ tín dụng trên GDP tổng thể vẫn ở mức cao trên 130%.


Sự tăng trưởng của nợ công đang được kiềm chế bởi sự kết hợp giữa bán tài sản nhà nước và chính sách tài khóa chặt chẽ hơn. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn cần đầu tư đáng kể vào cơ sở hạ tầng và sản xuất năng lượng. Để điều này xảy ra, chính phủ phải tạo điều kiện để khu vực tư nhân trong nước tham gia và phát triển thông qua cải cách về cấu trúc.


So với sự đổi mới ở các nước khác, năm 2018 Việt Nam tụt hạng nhẹ trong xếp hạng “Thuận lợi hóa kinh doanh” của Ngân hàng Thế giới từ hạng 68 xuống 69 (trong tổng số 190 nền kinh tế).


Một phát triển thương mại đầy hứa hẹn trong năm nay là Việt Nam phê chuẩn Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP) vào tháng 11. Đây là một bước quan trọng đối với Việt Nam vì CPTPP liên quan đến việc giảm đáng kể các biện pháp thuế quan và phi thuế quan (NTM) cho các nước tham gia.


Theo phân tích của Ngân hàng Thế giới, mức thuế thương mại trung bình của các nhà xuất khẩu Việt Nam sang thị trường CPTPP sẽ giảm từ 1,7% xuống 0,2% và biện pháp phi thuế qua sẽ giảm trung bình 3,6 điểm phần trăm trong các điều khoản thuế trị giá tương đương. Đến năm 2030, điều này ước tính tạo ra mức tăng trưởng GDP 1,1%. Các lĩnh vực sẽ gặt hái những lợi ích lớn nhất là thực phẩm, đồ uống và thuốc lá, quần áo và da, dệt may, một số ngành sản xuất và dịch vụ.


Các quy định về xuất xứ trong CPTPP sẽ khuyến khích đầu tư và phát triển trong các ngành công nghiệp chế biến đơn giản  (upstream industries) và mở rộng quan hệ hỗ trợ cho các ngành công nghiệp chưa được các doanh nghiệp nhà nước khai thác hiệu quả. Để gặt hát lợi ích này, Chính phủ phải có các chính sách và biện pháp khuyến khích cạnh tranh và đổi mới các doanh nghiệp nhà nước hoạt động kém hiệu quả.  Thứ đến là yêu cầu đổi mới hoạt động của hải quan nhằm giảm chi phí vận chuyển và thông quan hàng hóa.


Tiếp tục kết quả hoạt động năm 2017, kinh tế Việt Nam năm 2018 đã tiếp tục duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ. Dự trữ ngoại hối được quản lý tốt nhờ xuất khẩu lành mạnh và dòng vốn đầu tư nước ngoài. Ngân sách trong nước cũng được đảm bảo nhờ quá trình tư nhân hóa nhanh chóng hơn các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như những cải cách không ngừng trong lĩnh vực thuế quan và mua sắm công.


Tuy nhiên, những rủi ro và thách thức vẫn còn rất nhiều và chính phủ cần tiếp tục kiên trì các đổi mới đầy tham vọng của mình, bao gồm cả trong hệ thống giáo dục đại học, hành chính công và tài chính. Nếu không, Việt Nam sẽ phải vật lộn để giữ tỉ lệ tăng trưởng cao khi dân số nước này bắt đầu già hóa trong 2 thập niên tới. Suiwah Leung là Phó giáo sư kinh tế danh dự tại Trường Chính sách công Crawford, Đại học Quốc gia Úc./.

(Thu Hường dịch)