tìm kiếm

Trang nhất > Chính trị

Thứ Bảy, 04/04/2020 | 18:32:12 GMT+7
Sự kiện trong tuần

Một số tin đáng chú ý trong tuần: Thường trực Chính phủ họp bàn ứng phó dịch bệnh Covid-19. Xây dựng hệ thống an sinh xã hội hướng tới toàn dân, phù hợp chuẩn mực quốc tế. Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030. Việt Nam đã điều trị khỏi 14/16 trường hợp mắc bệnh COVID-19. Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona đánh giá cao tình hình khống chế dịch bệnh và điều trị cho các bệnh nhân mắc Covid-19 vừa qua.

19/02/2020 08:52:00

Thường trực Chính phủ họp bàn ứng phó dịch bệnh Covid-19

Chiều 17-2, tại Trụ sở Chính phủ, Thường trực Chính phủ dưới sự chủ trì của Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc họp bàn các giải pháp ứng phó dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona gây ra (Covid-19).

Thường trực Chính phủ họp bàn ứng phó dịch bệnh Covid-19

Thường trực Chính phủ họp bàn ứng phó dịch bệnh Covid-19

Sau khi nghe báo cáo về tình hình dịch bệnh, phát biểu ý kiến kết luận cuộc họp, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, công tác phòng, chống dịch bệnh (PCDB), đưa công dân Việt Nam về nước được dư luận quốc tế, trong nước đánh giá rất cao; công tác nghiên cứu về virus corona của Việt Nam cũng đạt nhiều thành công. Đây là sự cố gắng lớn của cả hệ thống chính trị, Ban Chỉ đạo quốc gia phòng, chống dịch bệnh Covid-19, các cấp, các ngành, người dân.

Thủ tướng khẳng định, Việt Nam không chỉ là điểm đến an toàn vì nỗ lực PCDB hiệu quả, mà Việt Nam còn an toàn một cách tự nhiên nhờ điều kiện thời tiết sắp tới sẽ ấm áp; thời tiết miền trung, nam thuận lợi, các bãi biển đẹp, hấp dẫn; khách du lịch không chỉ đến Việt Nam để cảm nhận an toàn mà còn trải nghiệm thú vị. Với du khách quốc tế, các nhà đầu tư, Việt Nam là môi trường sống an toàn, có nhiều tiềm năng cho trải nhiệm và sự nghiệp kinh doanh.

Có nhiều ngành, doanh nghiệp (DN) không chỉ vượt qua khó khăn về dịch bệnh, mà còn chuyển “nguy thành cơ”; có nhiều việc chúng ta đã làm thành công, như: xử lý nông sản bị ùn ứ thời gian qua một cách căn bản; nhiều chuyến hàng xuất khẩu nông sản bằng đường biển, đường bộ được khơi thông.

Thủ tướng cũng bày tỏ, ngành gỗ Việt Nam có khả năng từ đứng thứ 5 vươn lên thứ 2 thế giới năm nay. Nhiều DN đã có cách làm rất sáng tạo để công việc xuất nhập khẩu, sản xuất, kinh doanh (SXKD), dịch vụ hoạt động bình thường. Chúng ta không vì chống dịch mà ngưng trệ các hoạt động SXKD.

Trong PCDB vừa qua, Chính phủ ghi nhận và đánh giá cao tinh thần đoàn kết, ý thức trách nhiệm của T.Ư, các địa phương, trong nhân dân. Chúng ta thấy được tinh thần quyết tâm hành động trong PCDB. Nhân dịp này, Thủ tướng chúc mừng ngành y tế nói chung, đội ngũ y, bác sĩ nỗ lực, kết quả đạt được trong công cuộc PCDB.

Chính phủ cũng chia sẻ với nhiều gia đình trên khắp đất nước đang phải xoay xở, thu xếp cuộc sống vì con em phải nghỉ học dài ngày. Chúng ta cũng ấn tượng vì đội ngũ cán bộ phi công, tiếp viên, nhân viên của Vietnam Airlines, bác sĩ đã tình nguyện sang tận Vũ Hán để đưa công dân về nước. Đây là những hình ảnh tuyệt vời và cần được trân trọng.

Thủ tướng nhấn mạnh, việc phòng chống virus corona không khó bằng phòng chống loại “virus trì trệ” còn lây nhiễm đâu đó trong hệ thống chúng ta. Thủ tướng nhấn mạnh, phải chống bằng được loại virus này. Điều đáng mừng là trong diễn biến dịch bệnh vừa qua, không có nơi nào biểu hiện “trên nóng dưới lạnh”.

Cuộc họp này, Thủ tướng muốn lan tỏa tinh thần quyết tâm của Chính phủ và địa phương thực hiện tích cực, hành động quyết liệt hơn nữa để năm 2020, chúng ta hoàn thành mọi chỉ tiêu phát triển kinh tế - xã hội mà Quốc hội đã đề ra. Quyết tâm đó, trách nhiệm đó đến giờ phút này không thay đổi. Các cấp, các ngành cùng với PCDB phải đẩy mạnh SXKD, dịch vụ.

Do đó, các cấp, ngành nhanh chóng, khẩn trương vào cuộc, tăng tốc. Khó khăn cũng chính là cơ hội vượt lên chính mình, kiến tạo lại những nền tảng bền vững hơn và đạt những thành quả to lớn hơn trong năm 2020. Đó cũng là yêu cầu của Chính phủ đối với các cấp, các ngành, toàn dân trong bối cảnh hiện nay.

Chính vì vậy, chúng ta cần bình tĩnh trước dịch bệnh, đương đầu và vượt qua. Do đó. Thủ tướng đề nghị người dân, DN có phương án thúc đẩy, giữ vững nhịp độ tăng trưởng. Chúng ta nói hy sinh một phần tăng trưởng kinh tế để bảo vệ sức khỏe, tính mạng người dân, nhưng Chính phủ không chọn giải pháp dễ là đóng cửa mọi thứ, mà chọn giải pháp khó hơn là tiếp tục tạo thuận lợi, duy trì việc đi lại của người dân, du khách; tiếp tục có giải pháp bảo đảm hoạt động SXKD, thương mại nhưng vẫn có phương án bảo đảm an toàn cho người dân.

Chính phủ yêu cầu Ban Chỉ đạo quốc gia và Ban Chỉ đạo các địa phương là kiểm soát dịch bệnh, mà chỉ đẩy lùi dịch bệnh, là mới chỉ đạt một nửa yêu cầu. Yêu cầu lớn hơn của Chính phủ là phải giảm thiểu tác động của dịch bệnh tới đời sống của người dân và nền kinh tế; kiên quyết phấn đấu bảo đảm mục tiêu tăng trưởng của Quốc hội đề ra. Đây là mục tiêu kép đang đặt ra cho các cấp, các ngành, người dân và DN.

Thủ tướng đề nghị người dân yên tâm, tin tưởng, đặt niềm tin và ủng hộ Chính phủ trong công cuộc PCDB. Cuộc chiến “chống dịch như chống giặc” này không thể thành công nếu không có sự chung tay, đồng lòng của người dân. Chính phủ mong muốn người dân ủng hộ có trách nhiệm với công cuộc này. Thủ tướng cũng lưu ý, trong xã hội vẫn có một phận người dân hoang mang, án binh bất động, chủ quan coi thường, không thực hiện yêu cầu của ngành y tế đặt ra trong PCDB.

Trong công cuộc PCDB Covid-19 này, Thủ tướng đề nghị phát huy tinh thần quý báu cả dân tộc, tương thân tương ái giúp đỡ nhau trong khó khăn; không kỳ thị xa lánh; hỗ trợ, giúp đỡ bạn bè quốc tế lúc khó khăn; xây dựng hình ảnh người Việt Nam nghĩa hiệp, mến khách.

Thủ tướng cũng yêu cầu các nhà đầu tư, DN yên tâm với kế hoạch SXKD. Chính phủ Việt Nam bảo đảm không chỉ môi trường kinh doanh tốt nhất, mà còn môi trường sống tốt nhất cho các nhà đầu tư đến Việt Nam. Trong bối cảnh hiện nay, các DN cần chủ động đón đầu, không bỏ lỡ cơ hội làm ăn khi thời cơ đến; có kế hoạch khắc phục những bất cập để tăng tốc SXKD. Chính phủ sẽ có những kịch bản tăng trưởng và có chính sách phù hợp để thúc đẩy SXKD.

Thủ tướng đề nghị mọi cấp, mọi ngành dành ưu tiên thời gian chống dịch; cách ly đối tượng nghi lây nhiễm; đặc biệt, kiểm soát tốt, chặt chẽ biên giới; các cấp, các ngành tiếp tục quan tâm thúc đẩy SXKD, bảo đảm cuộc sống, sinh hoạt của người dân; tiếp tục cải cách thủ tục hành chính mạnh mẽ... Thủ tướng cũng yêu cầu các cơ quan chức năng xử lý nghiêm mọi trường hợp lợi dịch bệnh để tung tin đồn nhảm, thất thiệt, gây hoang mang dư luận.

 

Xây dựng hệ thống an sinh xã hội hướng tới toàn dân, phù hợp chuẩn mực quốc tế

Bảo hiểm xã hội (BHXH) Việt Nam tổ chức Hội nghị trực tuyến đánh giá kết quả 25 năm thực hiện chính sách BHXH, bảo hiểm y tế (BHYT); các giải pháp triển khai Nghị quyết số 28-NQ/TW và nhiệm vụ công tác năm 2020. Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc dự và phát biểu ý kiến.

Xây dựng hệ thống an sinh xã hội hướng tới toàn dân, phù hợp  chuẩn mực quốc tế

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc tại Hội nghị trực tuyến đánh giá kết quả 25 năm thực hiện chính sách BHXH, BHYT; các giải pháp triển khai Nghị quyết số 28-NQ/TW và nhiệm vụ công tác năm 2020 của BHXH Việt Nam. Ảnh: TRẦN HẢI

Cùng dự, có các đồng chí Ủy viên T.Ư Ðảng: Vũ Ðức Ðam, Phó Thủ tướng Chính phủ; Mai Tiến Dũng, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; Ðinh Tiến Dũng, Bộ trưởng Tài chính, Chủ tịch Hội đồng quản lý (HÐQL) BHXH Việt Nam; Ðào Ngọc Dung, Bộ trưởng Lao động - Thương binh và Xã hội; Thượng tướng Nguyễn Văn Thành, Thứ trưởng Bộ Công an; cùng đại diện lãnh đạo các bộ, ban, ngành; các thành viên HÐQL BHXH Việt Nam. Tại 63 điểm cầu địa phương, có đại diện lãnh đạo UBND các tỉnh, thành phố; đại diện các sở, ban, ngành liên quan và BHXH cấp tỉnh, huyện.

Phát biểu ý kiến chỉ đạo tại hội nghị, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc khẳng định, qua 25 năm hình thành và phát triển, BHXH Việt Nam đã đóng vai trò trụ cột chính trong hệ thống an sinh xã hội (ASXH), góp phần thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ.

Thủ tướng đánh giá cao những thành tựu ngành BHXH đã đạt được trong thời gian qua. Diện bao phủ BHXH, BHYT ngày càng được mở rộng. Tính đến hết năm 2019, số người tham gia BHXH đạt gần 16 triệu người (chiếm khoảng 32,3% lực lượng lao động); số người tham gia BHYT đạt gần 86 triệu người (chiếm 90% dân số). Với tỷ lệ này, Việt Nam cơ bản đã hoàn thành mục tiêu BHYT toàn dân và về đích trước thời hạn so với mục tiêu đề ra tại Nghị quyết số 21; nếu so với một số quốc gia phát triển trên thế giới thì để đạt mục tiêu BHYT toàn dân nêu trên phải mất từ 40 đến 80 năm.

Cùng với số lượng người thụ hưởng chế độ BHXH, BHYT không ngừng tăng, bình quân mỗi năm có hàng chục triệu lượt người hưởng chế độ BHXH, hàng trăm triệu lượt người hưởng chế độ BHYT. Theo đó, quỹ BHXH, quỹ BHYT đã trở thành các quỹ an sinh lớn nhất; tỷ lệ chi từ nguồn Quỹ BHXH ngày càng tăng; tỷ lệ chi từ ngân sách nhà nước cho BHXH ngày càng giảm, khẳng định quan điểm đúng đắn của Ðảng trong việc khuyến khích người dân nâng cao năng lực tự bảo đảm ASXH.

Thủ tướng yêu cầu, BHXH Việt Nam cần có những giải pháp cụ thể hơn, sáng tạo hơn để khắc phục những bất cập, hạn chế như: Hệ thống chính sách, pháp luật BHXH, BHYT phải thường xuyên đổi mới, cập nhật cho phù hợp thông lệ quốc tế. Chính sách ASXH cần ứng dụng công nghệ số để quản lý thống nhất, bảo đảm hiệu quả, giảm chi phí thường xuyên cho bộ máy tổ chức của BHXH; cần giảm mạnh thời gian nộp BHXH trong thời gian tới; giải quyết triệt để tình trạng lạm dụng quỹ BHYT, trốn đóng BHXH; nâng cao công tác phối hợp, chia sẻ thông tin giữa các cơ quan liên quan với BHXH...

Ðể BHXH thật sự trở thành trụ cột chính của hệ thống ASXH đất nước, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đề nghị, BHXH Việt Nam và các bộ, ngành liên quan cần tiếp tục quán triệt, triển khai thực hiện có hiệu quả những quan điểm lớn trong Nghị quyết số 28 của Trung ương về chính sách BHXH để đạt được những thắng lợi, mục tiêu đề ra. Với tinh thần đó, Thủ tướng gợi mở năm nhóm giải pháp đối với toàn ngành BHXH. Thứ nhất, phát triển hệ thống chính sách BHXH, BHYT linh hoạt, đa dạng, đa tầng, hiện đại, hội nhập quốc tế; huy động các nguồn lực xã hội theo truyền thống tương thân, tương ái của dân tộc, hướng tới bao phủ toàn dân theo lộ trình phù hợp điều kiện phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp hài hòa theo nguyên tắc đóng hưởng công bằng, bình đẳng chia sẻ bền vững. Thứ hai, cải cách chính sách BHXH vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính lâu dài, kết hợp hài hòa giữa kế thừa ổn định với đổi mới phát triển và phải đặt trong mối tương quan giữa đổi mới phát triển các chính sách xã hội khác, nhất là thu nhập, trợ cấp xã hội cho người dân phải nâng cao hơn. Thứ ba, tổ chức thực hiện chính sách BHXH bảo đảm tinh gọn, chuyên nghiệp, hiệu quả, hiện đại; nâng cao tính hấp dẫn, củng cố niềm tin và sự hài lòng của người dân, cũng như các chủ thể tham gia BHXH. Thứ tư, phát triển tổ chức hệ thống chính sách BHXH là nhiệm vụ của toàn bộ hệ thống chính trị, trách nhiệm của cấp ủy đảng và chính quyền, MTTQ, các tổ chức chính trị - xã hội, doanh nghiệp cũng như người dân.

Thủ tướng yêu cầu, BHXH Việt Nam phải xác lập một chiến lược phát triển để trở thành một thiết chế hiện đại, hiệu quả, gắn với việc ứng dụng công nghệ thông tin, kết nối, liên thông trong thực thi chính sách. BHXH Việt Nam phải là mô hình đi đầu trong việc bảo đảm sự hài lòng của người dân, không ngừng củng cố niềm tin của người lao động. Tiếp tục hoàn thiện hệ thống ASXH theo hướng tích hợp để quản lý tập trung, thống nhất, có tính chia sẻ giữa Nhà nước, xã hội và người dân, giữa các nhóm dân cư trong một thế hệ và giữa các thế hệ; bảo đảm công bằng, bền vững, bám sát các mục tiêu và nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của đất nước. Mở rộng độ bao phủ BHYT; đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin; hoàn thiện cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm; thực hiện kết nối, chia sẻ thông tin với các bộ, ngành; liên thông giải quyết thủ tục hành chính trên Trục dữ liệu quốc gia, góp phần xây dựng thành công Chính phủ điện tử.

Tại hội nghị, thay mặt Chính phủ, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc trao Cờ thi đua của Chính phủ tặng BHXH Việt Nam, vì đã hoàn thành xuất sắc, toàn diện nhiệm vụ công tác, dẫn đầu phong trào thi đua yêu nước năm 2019; trao Huân chương Ðộc lập hạng ba của Chủ tịch nước tặng Thứ trưởng, Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam Nguyễn Thị Minh, vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong quá trình công tác, góp phần vào sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc.

Cũng tại hội nghị, BHXH Việt Nam đã phát động phong trào thi đua yêu nước năm 2020 của ngành BHXH, với chủ đề: “Công chức, viên chức ngành BHXH nêu cao tinh thần đoàn kết, trách nhiệm; nỗ lực phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ năm 2020”.

 

Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030

Chiến lược đặt mục tiêu đảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định, có chất lượng cao với giá cả hợp lý cho phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững.

Chien luoc phat trien nang luong quoc gia cua Viet Nam den nam 2030 hinh anh 1
Ảnh minh họa. (Nguồn: TTXVN)

 Bộ Chính trịđã ban hành Nghị quyết số 55-NQ/TW về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Cung cấp năng lượng cơ bản đáp ứng đủ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội

Sau 15 năm thực hiện Kết luận số 26-KL/TW, ngày 24/10/2003 của Bộ Chính trị khóa IX về Chiến lược và quy hoạch phát triển ngành điện lực Việt Nam và 10 năm thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, ngày 25/10/2007 của Bộ Chính trị khóa X về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2050, ngành năng lượng nói chung và ngành điện lực nói riêng đã có bước phát triển nhanh, tương đối đồng bộ trong tất cả các phân ngành, lĩnh vực; bám sát định hướng và đạt được nhiều mục tiêu cụ thể đề ra.

Cung cấp năng lượng, đặc biệt là cung cấp điện cơ bản đáp ứng đủ yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội với chất lượng ngày càng được cải thiện.

Công nghiệp khai thác dầu khí và lọc hóa dầu phát triển mạnh; sản lượng khai thác dầu khí tăng cao, hình thành được một số cơ sở lọc hóa dầu quy mô lớn. Đã đầu tư xây dựng nhiều dự án mỏ than có công suất lớn; sản lượng khai thác than thương phẩm tăng; thủy điện phát triển nhanh, gần đây điện gió và điện mặt trời bắt đầu phát triển với tốc độ cao. Đầu tư xây dựng hạ tầng cung cấp điện có sự phát triển mạnh mẽ, là điều kiện quan trọng cho việc bảo đảm an ninh cung ứng điện. Đưa điện lưới quốc gia tới hầu hết mọi miền của đất nước, kể cả vùng sâu, vùng xa, biên cương, hải đảo. Tiêu thụ năng lượng gia tăng đáng kể, cơ cấu tiêu thụ năng lượng chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa...

Tuy vậy, ngành năng lượng nước ta vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém. Mục tiêu bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia còn nhiều thách thức; các nguồn cung trong nước không đủ đáp ứng yêu cầu, phải nhập khẩu năng lượng ngày càng lớn; nhiều dự án điện bị chậm so với quy hoạch, kế hoạch; một số chỉ tiêu bảo đảm an ninh năng lượng đang biến động theo chiều hướng bất lợi.

Công tác quản lý, khai thác nguồn tài nguyên năng lượng còn một số hạn chế. Hiệu quả khai thác, sử dụng năng lượng còn thấp. Cơ sở hạ tầng ngành năng lượng còn thiếu và chưa đồng bộ. Trình độ công nghệ trong một số lĩnh vực thuộc ngành năng lượng chậm được nâng cao, việc nội địa hóa và hỗ trợ thị trường từ các dự án trong ngành năng lượng cho hàng hóa cơ khí chế tạo sản xuất trong nước còn hạn chế...

Chất lượng nguồn nhân lực, năng suất lao động trong một số lĩnh vực còn thấp. Thị trường năng lượng cạnh tranh phát triển chưa đồng bộ, thiếu liên thông giữa các phân ngành, giữa phát điện với truyền tải điện; chính sách giá năng lượng còn bất cập, chưa hoàn toàn phù hợp với cơ chế thị trường, chưa tách bạch với chính sách an sinh xã hội...

Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia

Nghị quyết đưa ra mục tiêu tổng quát: Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; cung cấp đầy đủ năng lượng ổn định, có chất lượng cao với giá cả hợp lý cho phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh, nâng cao đời sống của nhân dân, góp phần bảo vệ môi trường sinh thái.

Ngành năng lượng phát triển hài hòa giữa các phân ngành với hạ tầng đồng bộ và thông minh, đạt trình độ tiên tiến của khu vực ASEAN. Xây dựng thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, hiệu quả, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên năng lượng trong nước kết hợp với xuất, nhập khẩu năng lượng hợp lý; triệt để thực hành tiết kiệm và sử dụng hiệu quả năng lượng. Chủ động sản xuất được một số thiết bị chính trong các phân ngành năng lượng; nâng cấp, xây dựng lưới điện truyền tải, phân phối điện tiên tiến, hiện đại.

Nghị quyết tập trung vào các mục tiêu cụ thể như: Cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trong nước, đáp ứng cho các mục tiêu của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội 10 năm 2021-2030; trong đó, năng lượng sơ cấp đến năm 2030 đạt khoảng 175-195 triệu TOE (tấn dầu quy đổi), đến năm 2045, đạt khoảng 320-350 triệu TOE; tổng công suất của các nguồn điện đến năm 2030 đạt khoảng 125-130 GW, sản lượng điện đạt khoảng 550-600 tỷ KWh.

Tỷ lệ các nguồn năng lượng tái tạo trong tổng cung năng lượng sơ cấp đạt khoảng 15-20% vào năm 2030; 25-30% vào năm 2045. Tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng đến năm 2030 đạt mức 105-115 triệu TOE, năm 2045 đạt mức 160-190 triệu TOE. Cường độ năng lượng sơ cấp năm 2030 đạt từ 420-460 kgOE/1.000 USD GDP, năm 2045 từ 375-410 kgOE/1.000 USD GDP.

Xây dựng hệ thống lưới điện thông minh, hiệu quả, có khả năng kết nối khu vực; bảo đảm cung cấp điện an toàn, đáp ứng tiêu chí N-1 đối với vùng phụ tải quan trọng và N-2 đối với vùng phụ tải đặc biệt quan trọng.

Đến năm 2030, độ tin cậy cung cấp điện năng thuộc tốp 4 nước dẫn đầu ASEAN, chỉ số tiếp cận điện năng thuộc tốp 3 nước dẫn đầu ASEAN. Các cơ sở lọc dầu đáp ứng tối thiểu 70% nhu cầu trong nước; bảo đảm mức dự trữ chiến lược xăng dầu đạt tối thiểu 90 ngày nhập ròng. Đủ năng lực nhập khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) khoảng 8 tỷ m3 vào năm 2030 và khoảng 15 tỷ m3 vào năm 2045.

Tỷ lệ tiết kiệm năng lượng trên tổng tiêu thụ năng lượng cuối cùng so với kịch bản phát triển bình thường đạt khoảng 7% vào năm 2030 và khoảng 14% vào năm 2045. Giảm phát thải khí nhà kính từ hoạt động năng lượng so với kịch bản phát triển bình thường ở mức 15% vào năm 2030, lên mức 20% vào năm 2045.

Tầm nhìn đến năm 2045, Nghị quyết xác định: Bảo đảm vững chắc an ninh năng lượng quốc gia; hình thành đồng bộ các yếu tố thị trường năng lượng cạnh tranh, minh bạch, phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; các phân ngành năng lượng phát triển bền vững, sử dụng hiệu quả tài nguyên, bảo vệ môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; hệ thống hạ tầng năng lượng phát triển đồng bộ, hiện đại, khả năng kết nối khu vực và quốc tế được nâng cao; chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học-công nghệ và năng lực quản trị ngành năng lượng đạt trình độ tiên tiến của một nước công nghiệp phát triển hiện đại.

Nghị quyết cũng đã đưa ra 10 nhóm nhiệm vụ và giải pháp cho định hướng chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 gồm: Phát triển các nguồn cung năng lượng sơ cấp theo hướng tăng cường khả năng tự chủ, đa dạng hoá, bảo đảm tính hiệu quả, tin cậy và bền vững; Phát triển nhanh và bền vững ngành điện đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nước; cơ cấu lại các ngành và khu vực tiêu thụ năng lượng song song với thực hiện chính sách về sử dụng năng lượng sạch, tiết kiệm và hiệu quả; Phát triển hạ tầng năng lượng bền vững, kết nối khu vực; nâng cao nội lực ngành công nghiệp chế tạo, dịch vụ phục vụ ngành năng lượng.

Cùng với đó, cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước trong lĩnh vực năng lượng; khuyến khích kinh tế tư nhân tham gia xã hội hoá phát triển năng lượng; đổi mới cơ chế, chính sách, phát triển thị trường năng lượng đồng bộ, liên thông, hiện đại và hiệu quả, phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa; Phát triển khoa học-công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao cho ngành năng lượng; đẩy mạnh hợp tác quốc tế; tích cực, chủ động xây dựng các đối tác chiến lược để thực hiện mục tiêu nhập khẩu năng lượng trong dài hạn và đầu tư tài nguyên năng lượng ở nước ngoài.

Thực thi chính sách bảo vệ môi trường ngành năng lượng gắn với mục tiêu giảm phát thải khí nhà kính, thúc đẩy kinh tế tuần hoàn và phát triển bền vững; tăng cường sự lãnh đạo của Đảng; nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước; phát huy quyền làm chủ của nhân dân và vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị-xã hội trong phát triển ngành năng lượng./.

 

Việt Nam đã điều trị khỏi 14/16 trường hợp mắc bệnh COVID-19

Tại Việt Nam đã ghi nhận tổng số 16 trường hợp mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona, trong đó các bác sỹ đã điều trị khỏi 14 trường hợp.

Hai bệnh nhân nhiễm dịch COVID-19 được chữa khỏi ở bệnh viện tuyến huyện tại "tâm dịch Bình Xuyên." (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)

Hai bệnh nhân nhiễm dịch COVID-19 được chữa khỏi ở bệnh viện tuyến huyện tại "tâm dịch Bình Xuyên." (Ảnh: Hoàng Hùng/TTXVN)

Theo thông tin từ Hệ thống giám sát dịch bệnh của Việt Nam, tính đến tối 18/2, tại Việt Nam đã ghi nhận tổng số 16 trường hợp mắc bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona (COVID-19), trong đó các bác sỹ đã điều trị khỏi 14 trường hợp.

Hai trường hợp bệnh nhân mắc COVID-19 đang được điều trị gồm: Bệnh nhi 3 tháng tuổi đang điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương và 1 bệnh nhân mắc bệnh ngày 13/2 đang được điều trị tại huyện Bình Xuyên.

Các bệnh nhân còn lại hiện đang ổn định, tiếp tục được theo dõi, điều trị và sẽ ra viện khi xét nghiệm cho kết quả âm tính ít nhất hai lần.

Kể từ ngày 13/2 đến nay, Việt Nam chưa phát hiện thêm ca mắc mới.

Tổng số trường hợp nghi ngờ đang theo dõi cách ly là 34 trường hợp, trong đó ghi nhận trong ngày 18/2 là 28 trường hợp (đều ở miền Bắc) và số cũ theo dõi là 6 trường hợp.

Tổng số người tiếp xúc gần và nhập cảnh từ vùng dịch đang được theo dõi sức khỏe là 1.538 người.

Tổng số mẫu đã xét nghiệm cộng dồn là 1.153 (trong đó, số mẫu dương tính là 16, số mẫu âm tính là 1.137).

Viet Nam da dieu tri khoi 14/16 truong hop mac benh COVID-19 hinh anh 1

Trên thế giới, đến nay đã ghi nhận 73.336 trường hợp mắc COVID-19 tại 29 quốc gia và vùng lãnh thổ, trong đó có 1.874 trường hợp tử vong.

Các trường hợp tử vong gồm: 1.869 người ở Trung Quốc,  Philippines có 1 trường hợp, Hong Kong 1 trường hợp, Nhật Bản 1 trường hợp, Pháp 1 trường hợp, Đài Loan 1 trường hợp.

Số trường hợp mắc ghi nhận tại Trung Quốc là 72.438 người ở 31/31 tỉnh, thành phố, chiếm 98,8% tổng số trường hợp mắc trên toàn thế giới. Các quốc gia khác ghi nhận 898 trường hợp mắc COVID-!9.

Những ngày qua, Tổ công tác thường trực phòng chống dịch của Bộ Y tế (thường trực Ban chỉ đạo quốc gia) tiếp tục thường trực hỗ trợ địa phương về giám sát, cách ly, điều trị bệnh nhân tại Vĩnh Phúc và hoàn thiện cập nhật Kế hoạch đáp ứng theo cấp độ của dịch bệnh COVID-19 trình Lãnh đạo Bộ Y tế ban hành./.

 

Họp Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona gây ra

Sớm đưa cuộc sống trở lại bình thường sau dịch Covid-19

Ban Chỉ đạo Quốc gia phòng chống dịch bệnh viêm đường hô hấp cấp do chủng mới của virus corona họp sáng 19-2.

Tại cuộc họp, đại diện Bộ Y tế cho biết, đến thời điểm hiện tại, 14 người mắc Covid-19 ở Việt Nam đã được chữa khỏi. Còn lại trường hợp bệnh nhân Việt kiều Mỹ 73 tuổi đang điều trị tại Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới TP Hồ Chí Minh đã năm lần cho kết quả âm tính với Covid-19 và dự kiến được xuất viện vào ngày 21-2. Trường hợp bé ba tháng tuổi mắc Covid-19 điều trị tại Bệnh viện Nhi Trung ương (Hà Nội) đã ổn định sức khỏe, âm tính lần một với Covid-19. Với tình trạng tiến triển tốt, sau khi làm các xét nghiệm cần thiết và tiếp tục có kết quả âm tính với Covid-19, dự kiến bé có thể sớm được xuất viện. Đặc biệt, không chỉ ở tuyến Trung ương, tuyến tỉnh mà tuyến huyện cũng chữa khỏi bệnh cho những người bị nhiễm Covid-19.

Ngoài ra, hiện còn 34 trường hợp nghi nhiễm Covid-19 đang được cách ly theo dõi chặt chẽ để không lây nhiễm ra cộng đồng; 1.538 người tiếp xúc gần với người nghi nhiễm Covid-19 và nhập cảnh từ vùng dịch đang được cách ly, theo dõi sức khoẻ.

Bộ Y tế cũng cho biết, kể từ ngày 13-2 đến nay, Việt Nam chưa phát hiện thêm ca mới nào. Tại tỉnh Vĩnh Phúc hiện cũng không ghi nhận trường hợp mắc mới.

Về số người tiếp xúc gần và nhập cảnh từ vùng dịch đang được theo dõi sức khỏe, Bộ Y tế cho biết hiện có 1.538 người. Ngành y tế vẫn đang tiếp tục giám sát chặt chẽ tình hình dịch bệnh tại các cửa khẩu, tại cộng đồng, tại các khu vực cách ly tập trung tại nhà, nơi lưu trú để phát hiện sớm các trường hợp nghi ngờ, cách ly và quản lý kịp thời. Đồng thời, cập nhật tình trạng bệnh của bệnh nhân nhiễm Covid-19 đang chăm sóc điều trị tại bệnh viện cũng như cử chuyên gia của Bệnh viện Nhi Trung ương thường trực tại Trạm y tế xã Sơn Lôi để hỗ trợ chuyên môn và bổ sung máy siêu âm cho Trạm y tế xã Sơn Lôi.

Tuy nhiên, Ban Chỉ đạo cũng nhấn mạnh, diễn biến dịch bệnh ở nước ngoài còn phức tạp với 75.202 ca nhiễm Covid-19 trên thế giới, 2.010 ca tử vong, đã xuất viện 14.532 người. Riêng Trung Quốc có 74.186 ca nhiễm Covid-19, 2.004 người tử vong, 5.248 trường hợp nguy kịch, 14.376 người được chữa khỏi.

Tại cuộc họp, các thành viên Ban Chỉ đạo thống nhất công tác phòng, chống dịch bệnh ở trong nước không được chủ quan. Do đó, cần kiên trì và tiếp tục thực hiện tốt công tác rà soát, cách ly y tế. Ban Chỉ đạo cũng bàn bạc các giải pháp, điều kiện tiến hành các bước chuẩn bị theo tinh thần chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ là làm kiên quyết để ngắt dịch sớm, đưa cuộc sống cũng như các hoạt động kinh tế - xã hội trở lại bình thường.

Ban Chỉ đạo Quốc gia về phòng, chống dịch bệnh Covid-19 yêu cầu Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo dục và Đào tạo thông tin cho người dân hiểu rõ về vấn đề du lịch tại Việt Nam an toàn, giáo dục an toàn để du khách và người dân yên tâm. Để chuẩn bị cho học sinh đi học trở lại, Ban Chỉ đạo Quốc gia về phòng, chống dịch bệnh Covid-19 nêu rõ cần tích cực phòng chống dịch bệnh ở trường học, đồng thời truyền thông cho người dân hiểu rõ và tin tưởng, yên tâm khi cho trẻ quay trở lại trường học. Ngành y tế tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu, kết hợp với kinh nghiệm thế giới để hoàn thiện phác đồ điều trị, các điều kiện, giải pháp dự phòng hiệu quả nhất. Bảo đảm những ngày tới nếu phát hiện ra người nhiễm Covid-19 lập tức cách ly, dự phòng cộng đồng và chữa khỏi…

Các thành viên Ban Chỉ đạo đã bàn thảo và thống nhất một số nội dung liên quan đến công tác tiếp nhận lao động nước ngoài quay trở lại Việt Nam làm việc; công tác kiểm soát đường biên giới, kiểm soát xuất nhập cảnh; tiếp tục thực hiện tổ chức sàng lọc, theo dõi giám sát sức khoẻ, cách ly y tế… Bên cạnh đó, Ban Chỉ đạo cũng tiếp tục theo dõi sát sao, hoàn thiện các thủ tục công nhận một số địa phương đủ điều kiện công bố hết dịch; theo dõi chặt chẽ, điều trị dứt điểm một số bệnh nhân mắc Covid-19; triển khai công tác truyền thông phòng, chống dịch bệnh…

Vietnam.vn (tổng hợp)