tìm kiếm

Trang nhất > Kinh tế thế giới

Thứ Tư, 22/01/2020 | 14:46:32 GMT+7
Một năm phục hồi của kinh tế Việt Nam

Một lần nữa, nền kinh tế Việt Nam đã thể hiện sự kiên cường khi đối mặt với tình trạng sản xuất giảm chỉ số quản lý mua hàng và giảm niềm tin kinh doanh trên toàn cầu. Theo Ngân hàng Thế giới, Việt Nam năm 2019 có thể nằm trong số ba nền kinh tế phát triển nhanh nhất ở Đông Á.

13/01/2020 10:17:00

Một năm phục hồi của kinh tế Việt Nam - 1

So với mức tăng trưởng 3% trong GDP thế giới và tăng trưởng 4,3% cho khu vực năm 2018, con số của năm 2019 chỉ được dự kiến sẽ đạt lần lượt 2,6% và 4%. Nhưng nền kinh tế Việt Nam đã tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng dự kiến là 6,8 phần trăm - chậm hơn một chút so với năm 2018 nhưng ngang bằng với năm 2017 - chủ yếu do tiêu dùng trong nước và sản xuất theo định hướng xuất khẩu.
Lạm phát thông thường hàng năm là khoảng 2,2% vào tháng 10 năm 2019, bất chấp tăng giá dịch vụ y tế và giáo dục.

Dịch tả lợn Châu Phi bùng phát dường như cũng không làm ảnh hưởng tới giá lương thực và giá xăng dầu giảm cũng giúp kiềm chế sức ép lạm phát. Với mức lam phát tương đối thấp và tăng mạnh về tiền lương danh nghĩa (13,1%) trong lúc có sự chuyển dịch lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực dịch vụ và công nghiệp giúp giảm tiếp tỉ lệ nghèo. Số người ở mức nghèo cùng cực (thu nhập dưới 1,9 USD/ ngày) hiện ước tính chỉ chiếm dưới 2% dân số, theo số liệu của Ngân hàng Thế giới.


Chính sách tiền tệ thận trọng, với mức tăng trưởng tín dụng ở mức 12,5%- so với mức mục tiêu của Ngân hàng Trung ương là 14% năm 2019. Khu vực ngân hàng ổn định hơn với một giải pháp xử lý nợ xấu hiệu quả hơn thông qua biện pháp thu giữ và bán tài sản đảm bảo và tái cơ cấu nợ.

Về mặt tài chính cũng đạt mục tiêu thông qua kết hợp cắt giảm chi tiêu công và bán tài sản. Chi tiêu công giảm 5,6% năm 2019 so với năm trước, phần lớn là do tốc độ giải ngân chậm ở một số bộ và tỉnh.


Về mặt doanh thu, Việt Nam tiến hành bán các tài sản như quyền sử dụng đất và nhà ở thuộc sở hữu nhà nước và thoái vốn khỏi các doanh nghiệp nhà nước. Tuy nhiên, các biện pháp này chỉ áp dụng được 1 lần, về lâu dài vẫn cần nỗ lực tăng thu thuế.
Tuy nhiên, tổng hợp các biện pháp đã cho phép nợ công giảm xuống 56% GDP, vượt xa mức 65% Quốc hội giao. Tuy nhiên mức này vẫn cao hơn mức trần 55% mà Tổ chức Tiền tệ quốc tế IMF khuyến cáo để quản lý thận trọng các khoản nợ dài hạn.

Về mặt đối ngoại, xuất khẩu tiếp tục tăng 8.4% trong chín tháng đầu năm 2019, so với 15,8% cùng kỳ năm 2018. Đây là một hiệu suất đáng tin cậy trong bối cảnh kinh tế toàn cầu nhiều bất ổn. Xuất khẩu sang Mỹ tăng gần 28% trong chín tháng đầu năm 2019, so với khoảng 18% vào năm 2018. Điều này cho thấy trong ngắn hạn, từ góc nhìn hẹp, Việt Nam đã là nước  hưởng lợi từ hiệu ứng chuyển hướng thương mại của cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung.

Dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng tiếp tục ở mức cao được báo cáo trong năm 2017 và 2018, thêm bằng chứng về khả năng phục hồi của nền kinh tế Việt Nam. Do đó, dự trữ ngoại hối đã tăng tương đương 0,4% nhập khẩu từ cuối năm 2018 đến cuối năm 2019.

Theo báo cáo gần đây của Diễn đàn kinh tế thế giới, Việt Nam cũng đã tăng 10 bậc trong Chỉ số năng lực cạnh tranh toàn cầu.
Trong trung hạn, triển vọng theo Ngân hàng Thế giới là tốc độ tăng trưởng tương đối lành mạnh, khoảng 6,5% trong hai đến ba năm tới. Nhưng mối liên kết yếu giữa các doanh nghiệp nước ngoài định hướng xuất khẩu với khu vực trong nước vẫn tiếp tục là mối lo ngại. Việc thiếu tài chính dài hạn và sự khan hiếm lao động lành nghề là hai vấn đề khu vực tư nhân trong nước liên tục lên tiếng.
Đồng thời, tốc độ đổi mới và thoái vốn khỏi các doanh nghiệp nhà nước chậm lại là điều đáng tiếc. Không còn nghi ngờ gì nữa, nợ công dưới mức trần 65% đã giảm bớt sức ép chính trị đối với việc thoái vốn nhà nước, tuy nhiên cải cách cơ cấu này phải được tiếp tục nếu khu vực tư nhân trong nước không tăng về số lượng trong những năm tới.

Gắn liền với cải cách doanh nghiệp nhà nước là mối quan hệ nhà nước và doanh nghiệp. 13 tập đoàn lớn được coi là kinh tài của đất nước hnfh thành từ năm 2007 khi Việt Nam gia nhập WTO để tăng khả năng cạnh tranh của Việt Nam trong nền kinh tế thế giới.
Do các tập đoàn này phần lớn chịu sự kiểm soát của Chính phủ, đôi khi họ được chỉ đạo đặt các dự án đầu tư ở các tỉnh để đổi lấy hỗ trợ chính trị. Một số tập đoàn này đã bị phá sản, và chiến dịch chống tham nhũng đã dẫn đến sự sụp đổ của một số quan chức cấp cao. Cần phải giải quyết vấn đề mang tính hệ thống, nếu Việt Nam vượt qua mức thu nhập trung bình trong dài hạn.

Nền kinh tế Việt Nam đã cho thấy khả năng phục hồi tuyệt vời trước những cơn gió ngược và những bất ổn toàn cầu. Hy vọng rằng các nhà chức trách sẽ tận dụng đà phục hồi này và tiếp tục cải cách cơ cấu để sự tăng trưởng của Việt Nam trong tương lai ngày càng bền vững hơn.

Suiwah Leung là Phó giáo sư kinh tế danh dự tại Trường Chính sách công Crawford, Đại học Quốc gia Úc.Phần lớn số liệu thống kê sử dụng trong bài lấy từ Báo cáo Tài chính trong quá trình chuyển đổi - Mở khóa thị trường vốn cho Việt Nam Phát triển tương lai (tháng 12 năm 2019) của Ngân hàng Thế giới./.

(Thu Hường dịch)