tìm kiếm

Trang nhất > Kinh tế thế giới

Thứ Bảy, 21/09/2019 | 15:21:10 GMT+7
Làm thế nào Việt Nam có thể tránh bẫy thu nhập trung bình?

Việt Nam là một trong những câu chuyện kinh tế thành công nhất trong thế kỷ 21. Chỉ cách đây một thế hệ, đất nước này là một trong những nước nghèo nhất thế giới, gánh trên mình những vết thương của nhiều thập kỷ xung đột và với một nền kinh tế bị kìm hãm bởi một hệ thống kế hoạch hóa tập trung.

22/05/2019 15:55:00

Làm thế nào Việt Nam có thể tránh bẫy thu nhập trung bình? - 1


Việt Nam là một trong những câu chuyện kinh tế thành công nhất trong thế kỷ 21. Chỉ cách đây một thế hệ, đất nước này là một trong những nước nghèo nhất thế giới, gánh trên mình những vết thương của nhiều thập kỷ xung đột và với một nền kinh tế bị kìm hãm bởi một hệ thống kế hoạch hóa tập trung.

Sau ba thập kỷ tăng trưởng nhanh chóng gần như không bị gián đoạn, Việt Nam đã nổi lên như một nền kinh tế có thu nhập trung bình đầy khát khao. Các nhà đầu tư nước ngoài tìm đến tận cửa, yêu cầu tham gia và đóng góp cho sự thịnh vượng ngày càng tăng của quốc gia này. Tuy nhiên, như có thể thấy từ biểu đồ 1, quá trình chuyển đổi Việt Nam trở thành một nền kinh tế thịnh vượng và hiện đại chỉ mới bắt đầu. Thu nhập bình quân đầu người của Việt Nam hiện chỉ bằng khoảng 40% mức trung bình toàn cầu.

Để trở thành một quốc gia có thu nhập cao vào năm 2045, Việt Nam sẽ cần duy trì tốc độ tăng trưởng trung bình ít nhất 7% trong 25 năm tới, nhờ thế sẽ nâng GDP bình quân đầu người khoảng lên 25.000 đô la. Mặc dù Việt Nam có tiềm năng đáp ứng tham vọng này, nhưng không có cải cách, quốc gia này có thể sẽ tăng trưởng chậm lại và không đạt cao vọng của chính mình (xem Hình 2). Dân số già hóa nhanh chóng, năng suất ảm đạm và tăng trưởng đầu tư chậm chạp đều ảnh hưởng đến tiềm năng tăng trưởng trung hạn của Việt Nam. Nhiều động lực thúc đẩy sự tăng trưởng của đất nước trong quá khứ sẽ giảm sút trong thập kỷ tới. Những thành tựu từ chuyển đổi cơ cấu - nhân công chuyển dịch từ khu vực nông nghiệp có năng suất thấp sang khu vực công nghiệp và dịch vụ năng suất cao hơn – sẽ không còn. Tiền lương tăng dần khiến Việt Nam sẽ dần mất đi lợi thế cạnh tranh trong phân khúc lao động giá rẻ trong chuỗi giá trị toàn cầu.

 
Việt Nam cũng sẽ cần tìm hiểu hướng thay đổi của mô hình thương mại toàn cầu và các công nghệ đột phá – đây là quá trình định hình lại các cơ hội đồng thời cũng tạo ra vô vàn thách thức mới. Khối lượng thương mại thế giới đã tăng trưởng chỉ ở mức trên 3%/ năm từ năm 2012, chưa bằng phân nửa mức trung bình trong suốt 3 thập kỷ trước đó. Đồng thời, việc sử dụng các công nghệ sản xuất tiên tiến như Robot, in 3D, sản xuất thông minh ngày càng phổ biến ở các nền kinh tế khan hiếm lao động và tại Trung Quốc khiến gia tăng lo ngại về tiền lương cạnh tranh.

Ví dụ như, hãng sản xuất quần áo thể thao Adidas đã có kế hoạch chuyển sản xuất từ Việt Nam và các trung tâm sản xuất chi phí thấp khác sang một nhà máy in 3D mới tại Đức – nơi công ty này đặt trụ sở chính. Các xu hướng kể trên có thể thách thức khả năng Việt Nam có thể tiếp tục đi theo mô hình thành công của các con hổ Châu Á trước đây tuy vậy cũng có thể tạo ra nhiều cơ hội mới để bắt kịp thậm chí đi tắt đón đầu về công nghệ. Một số bằng chứng từ những nước áp dụng sớm các tiến bộ công nghệ này cho thấy các công nghệ trong sản xuất trên thực tế có thể thúc đẩy thương mại.

 
Vậy Việt Nam sẽ làm gì để tận dụng những cơ hội mới này đồng thời quản lý rủi ro một cách hiệu quả? Chúng tôi đề nghị bốn ưu tiên sau:


Thứ nhất, đẩy nhanh đầu tư nâng cao năng xuất lao động. Nền kinh tế Việt Nam vẫn còn tương đối khan hiếm về vốn. Điều này có nghĩa là việc thúc đẩy năng suất lao động của đội ngũ nhân công dồi dào của Việt Nam sẽ tiếp tục phát huy tác dụng. Việc này được thực hiện thông qua đầu tư vào cơ sở hạ tầng sản xuất, máy móc và công nghệ và đòi hỏi một hệ thống tài chính hiệu quả hơn, giảm bớt chi phí về tài chính và phân bổ hợp lý dự trữ trong nước vào khu vực tư nhân hiệu quả và đầu tư hạ tầng. Việc này cũng yêu cầu phải gỡ bỏ các nút thắt cho đầu tư tư nhân để giảm rủi ro và tăng thu hồi vốn từ các khoản đầu tư này.


Hai là, thúc đẩy lực lượng lao động có năng suất được trang bị các kỹ năng của thế kỷ 21. Nền kinh tế đang phát triển tốc độ nhanh của Việt Nam yêu cầu cần có một hệ thống mới các kỹ năng và quy trình sản xuất sản xuất phức tạp hơn nhiều so với trước đây. Theo một xếp hạng của Ngân hàng Thế giới về chỉ số nhân lực, Việt Nam xếp hạng 48 / 157 nước, năng suất trọn đời của một đưa trẻ sinh ra tại Việt Nam hiện nay chỉ mới đạt 67% khả năng của chúng với điều kiện chăm sóc y tế và giáo dục đầy đủ.

Bất chấp các thành tựu đạt được về nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục tại Việt Nam, hiện mới chỉ có 2/3 trẻ em Việt Nam hoàn thành cấp phổ thông trung học và 1/10 số lao động hiện nay có trình độ đại học hoặc trường nghề. Hiện có hơn một nửa số doanh nghiệp Việt Nam cho biết gặp khó khăn trong việc tìm kiếm lao động có kỹ năng phù hợp. Việt Nam sẽ cần một cuộc cải cách lớn để xây dựng các hệ thống đào tạo nghề toàn diện và cạnh tranh và các trường đại học ngang tầm thế giới.


Ba là, thúc đẩy sáng tạo. Sáng tạo cần phải đóng vai trò quan trọng hơn trong thúc đẩy năng suất, không chỉ thông qua việc nâng cấp các quy trình, công nghệ và sản phẩm ở các doanh nghiệp hiện nay, giảm và triệt tiêu các doanh nghiệp có năng suất thấp. Các doanh nghiệp Việt đang có rất nhiều cơ hội tiếp nhận và thích nghi với kiến thức và công nghệ hiện tại. Đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ, tính cạnh tranh – doanh nghiệp rất tham gia đồng thời cũng dễ bị đào thải khỏi thị trường – cũng như tính cởi mở với thương mại và đầu tư là các yếu tố then chốt để kích thích sáng tạo trong các doanh nghiệp.  


Các di sản về thể chế như khu vực sở hữu nhà nước vẫn còn rất lớn, các thể chế thị trường chưa hoàn thiện, môi trường đầu tư còn chưa thông thoáng tiếp tục kiềm hãm sự phát triển của khu vực tư nhân tại Việt Nam. Với việc nhà nước còn can thiệp vào các hoạt động sản xuất và phân bổ nguồn lực, nhiều câu hỏi về một sân chơi bình đẳng, quy tắc thị trường độc lập và một khuôn khổ cạnh tranh hiệu quả vẫn còn rất chính đáng. Nếu không được giải quyết, những điểm yếu về quản trị này có thể trở thành lực cản cho sự phát triển trong tương lai./.

(Thu Hường dịch)