tìm kiếm

Trang nhất > Kinh tế thế giới

Thứ Tư, 19/06/2019 | 05:27:44 GMT+7
FDI có hưởng lợi từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung?

Đăng trên Diễn đàn kinh tế Đông Nam Á có bài viết nhận định: Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đang đẩy mạnh việc chuyển dịch một phần đáng kể sản xuất từ Trung Quốc sang các nước ASEAN trong đó có Việt Nam.

04/01/2019 10:12:00

FDI có hưởng lợi  từ cuộc chiến tranh thương mại Mỹ - Trung? - 1

Trong những năm gần đây, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đã tăng tới 185% GDP. Mỹ và Trung Quốc hiện là hai thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, lần lượt chiếm tới 20% và 17% xuất khẩu Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2018.  Do phụ thuộc lớn vào các thị trường này nên Việt Nam rất dễ bị tổn thương trong chiến tranh thương mại Mỹ - Trung. Khi mức thuế cao Mỹ áp với hàng hóa nhập khẩu từ Trung Quốc tạo ra tác dụng chuyển hướng kích thích xuất khẩu từ Việt Nam và các quốc gia khác. Tuy nhiên tác động này tới Việt Nam không lớn bởi  hầu hết hàng hóa xuất khẩu của Trung Quốc sang Mỹ không cạnh tranh trực tiếp với các hàng hóa của Việt Nam.

Các mặt hàng ngoại lệ chính gồm các hàng hóa thâm dụng lao động như dệt may. Tuy nhiên, thị phần các mặt hàng này của Việt Nam tại Mỹ vốn đã tương đối cao, ít có cơ hội mở rộng hơn nữa mà không gây ra rủi ro xung đột với Tổng thống Mỹ Donald Trump. Mặc dù không phải là đối tác kinh tế lớn nhưng thặng dư thương mại lớn của Việt Nam với Mỹ (38.5 tỉ USD năm 2017).


Việt Nam cần một chiến lược mới và khôn ngoan hơn để đối phó với tình hình hiện nay. Chiến tranh thương mại Mỹ - Trung đang đẩy mạnh việc chuyển dịch một phần đáng kể của sản xuất từ Trung Quốc sang Việt Nam và các nước ASEAN khác, trong đó có nguồn cơn từ việc tăng chi phí nhân công tại Trung Quốc. Các nhà đầu tư từ Nhật Bản và các nước khác ngày càng tìm kiếm các địa điểm sản xuất ngoài Trung Quốc. Xu hướng này không chỉ liên quan đến sự dịch chuyển của các địa điểm sản xuất hiện tại, mà còn chi phối sự lựa chọn địa điểm cho đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) mới, đặc biệt là các dự án định hướng xuất khẩu.


Việt Nam cần nắm lấy cơ hội này để đào sâu và nâng cấp cơ cấu công nghiệp. Trong ba thập kỷ Đổi mới, công cuộc công nghiệp hóa đã thúc đẩy tăng trưởng kinh tế cao (trung bình 6,5%/ năm). Mặc dù vậy, mức độ công nghiệp hóa hiện nay (tỷ trọng công nghiệp trong GDP) vẫn còn thấp. Nếu tính căn cứ vào cùng thời điểm có cấu trúc dân số trẻ, tỉ trọng công nghiệp ở các nền kinh tế tiên tiến ở Đông Á đã đạt mức 30% trong khi đó tỉ trọng hiện tại ở Việt Nam chỉ là 20%.


Một vấn đề khác của quá trình công nghiệp hóa này tới nay chính là sự lệ thuộc quá nhiều vào các hàng hóa chế biến cuối cùng ở cấp thấp của chuỗi cung ứng. Do đó, việc mở rộng sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng này đã kích thích nhập khẩu các thành phần, bộ phận và các sản phẩm trung gian khác có liên quan. Ví dụ, việc mở rộng xuất khẩu hàng may mặc đã đi kèm với việc mở rộng nhập khẩu sợi và vải. Và việc mở rộng xuất khẩu điện thoại di động, xuất khẩu lớn nhất Việt Nam, đã đi kèm với thâm hụt thương mại của các linh kiện công nghệ cao. Máy in, xe máy, máy tính cá nhân và các loại máy móc khác do Việt Nam sản xuất và xuất khẩu cũng đang đi theo một mô hình tương tự.


Đa số các nguyên liệu đầu vào này được nhập khẩu từ Trung Quốc. Một nhà lắp ráp máy in thuộc sở hữu nước ngoài có hai nhà máy ở miền Bắc Việt Nam đã báo cáo rằng nhập khẩu khuôn mẫu công nghệ cao hàng năm của họ từ Trung Quốc đạt 100 triệu USD vào năm 2017. Đây là một con số ấn tượng khi một thành phần này chỉ được nhập khẩu cho hai nhà máy. Giám đốc công ty lắp ráp máy in chỉ ra rằng khuôn công nghệ cao có thể được sản xuất tại Việt Nam nếu các chính sách hỗ trợ phù hợp được thông qua.


Làn sóng mới của FDI là cơ hội để Việt Nam tăng cường công nghiệp hóa bằng cách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ. Chính phủ nên giới thiệu các dự án FDI mới trên cơ sở chọn lọc, cải thiện cơ sở hạ tầng và cung cấp các ưu đãi để tạo ra sự thay thế nhập khẩu cho các nguyên liệu đầu vàocác bộ phận và các sản phẩm công nghiệp trung gian khác sử dụng công nghệ cao. Cần công bố danh sách các sản phẩm được đặc biệt khuyến khích để kích thích sự phát triển của các ngành này.


Hầu hết vốn FDI ở Việt Nam cho đến nay là của các công ty hoàn toàn nước ngoài, với mối liên kết yếu với khu vực nội địa. Chính sách FDI mới nên nhắm tới việc điều chỉnh sự phân tách này. Các doanh nghiệp trong nước cần được khuyến khích để tạo ra mối liên kết dọc giữa các nhà lắp ráp FDI và các nhà cung cấp hàng hóa trung gian trong nước. Liên doanh giữa các công ty nước ngoài và trong nước cũng nên được khuyến khích. Chính phủ dĩ nhiên không nên ép buộc các công ty nước ngoài thành lập liên doanh. Thay vào đó, các công ty trong nước cần được nuôi dưỡng và củng cố để lọt mắt xanh các công ty nước ngoài khi lựa chọn đối tác.


Cuộc chiến thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có thể làm chậm lại xuất khẩu của Việt Nam. Nhưng làn sóng FDI mới mà nó tạo ra sẽ tăng cường thay thế nhập khẩu trong các ngành công nghiệp hỗ trợ. Xuất khẩu ròng có khả năng vẫn ở mức tương tự như các năm trước. Nếu nhu cầu ròng bên ngoài không thay đổi, Việt Nam có thể kỳ vọng duy trì tốc độ tăng trưởng mạnh gần đây./.


.

(Thu Hường dịch)