Một số văn bản quy phạm pháp luật liên quan biên giới Việt Nam –Lào và công tác tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới giữa hai nước

8h:1' - 2/7/2013
1. Tầm quan trọng của biên giới quốc gia
 
Biên giới quốc gia là hàng rào pháp lý xác định giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng biển, vùng trời và lòng đất thuộc chủ quyền quốc gia; là nơi phân chia chủ quyền lãnh thổ của một quốc gia này với một quốc gia khác và/hoặc với các vùng biển thuộc quyền chủ quyền và quyền tài phán của quốc gia đó. Nói một cách khác, đường biên giới quốc gia chính là giới hạn ngăn cách lãnh thổ quốc gia này với quốc gia khác, ngăn cách lãnh hải với vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của một quốc gia.
 
- Điều 1, Luật Biên giới quốc gia năm 2003 của Việt Nam nêu rõ “Biên giới quốc gia của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là đường và mặt thẳng đứng theo đường đó để xác định giới hạn lãnh thổ đất liền, các đảo, các quần đảo trong đó có quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, vùng biển, lòng đất, vùng trời của nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.
 
Việc xác lập đường biên giới quốc gia là nhằm phân định rõ giới hạn vùng đất, vùng nước, vùng trời thuộc chủ quyền toàn vẹn, đầy đủ và riêng biệt của quốc gia, gắn liền với những lợi ích về chính trị, kinh tế, xã hội và an ninh quốc phòng, do đó biên giới quốc gia mang tính pháp lý - chính trị và là sản phẩm do con người tạo ra trên cơ sở tôn trọng những yếu tố lịch sử, chính trị, xã hội, địa lý, kinh tế và dân tộc. Theo nghĩa đó, biên giới quốc gia cũng là cơ sở và nền tảng vật chất cho quốc gia tồn tại và phát triển.
 
Biên giới quốc gia là phên dậu của quốc gia, là cơ sở xác định phạm vi, lãnh thổ quốc gia đó (cho dù địa hình có thay đổi, biên giới sẽ không thay đổi theo nếu đã được phân giới rõ ràng theo đúng luật pháp quốc tế). Biên giới ổn định sẽ tạo điều kiện phát triển quan hệ hữu nghị với quốc gia láng giềng nói chung và giữa các địa phương biên giới nói riêng.
 
 
 
 
 
Biên giới ổn định còn là cơ sở phát triển kinh tế của đất nước nói chung và các địa phương giáp biên nói riêng; nhiều công trình kinh tế có liên quan mật thiết với việc giải quyết các vấn đề biên giới; việc quản lý biên giới như thế nào có tác động lớn tới giao lưu kinh tế giữa Việt Nam với các nước láng giềng. Một đường biên giới được xác định rõ ràng trên bản đồ và trên thực địa, được quản lý chặt chẽ nhưng vẫn thông thoáng cho người và hàng hoá qua lại là điều kiện tốt nhất cho việc phát triển kinh tế của đất nước và quan hệ kinh tế với các nước láng giềng.
 
Xác định đường biên giới rõ ràng sẽ giúp việc quản lý, ổn định đời sống nhân dân khu vực biên giới được thuận lợi hơn; ngăn chặn tình trạng di cư tự do, kết hôn không giá thú, xâm canh xâm cư.
 
2. Tổng quan về các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành của Việt Nam về biên giới và quy chế quản lý biên giới quốc gia
 
Luật Biên giới quốc gia năm 2003
 
Luật Biên giới quốc gia được Quốc hội khoá 11, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 17/6/2003, có hiệu lực từ ngày 1/1/2004, là luật chung nhất liên quan quản lý biên giới, bao gồm 6 chương, 41 điều.
 
Chương I: gồm 14 điều, quy định về biên giới quốc gia, phạm vi, chế độ pháp lý về biên giới quốc gia, chính sách xây dựng biên giới, khu vực biên giới; trách nhiệm của Nhà nước, công dân trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới, khu vực biên giới. Đặc biệt chương I đề cập đến các thuật ngữ cơ bản như biên giới quốc gia, đường cơ sở, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế, thềm lục địa, mốc quốc giới, công trình biên giới, cửa khẩu…
Chương II: gồm 10 điều, quy định về chế độ pháp lý về Biên giới quốc gia và khu vực biên giới, như: Quy định về xuất nhập cảnh, quá cảnh, nhập khẩu qua biên giới, quy định người, phương tiện qua lại biên giới, một số quy định cụ thể về tàu thuyền, tàu bay… hoạt động ở khu vực biên giới cũng như xử lý các tình huống trong khu vực biên giới.
 
Chương III: Gồm 10 điều, quy định trách nhiệm của nhà nước, các cơ quan nhà nứớc, Bộ đội biên phòng trong xây dựng, quản lý, bảo vệ biên giới và khu vực biên giới.
 
Chương IV: Gồm 03 điều, quy định nội dung quản lý nhà nước về Biên giới quốc gia, như trách nhịêm của nhà nước, chính phủ, các bộ, cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân các cấp trong quản lý nhà nước về Biên giới quốc gia.
 
Chương V gồm 02 điều và chương VI gồm 02 điều quy định về khen thưởng và xử lý vi phạm và điều khoản thi hành.
 
Nghị định số 34/2000/NĐ-CP về quy chế khu vực biên giới đất liền
 
Để tăng cường quản lý, bảo vệ chủ quyền, an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới đất liền, ngày 18/8/2000, Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Nghị định số 34/2000/NĐ-CP về quy chế khu vực biên giới đất liền nước CHXHCN Việt Nam được. Nghị định bao gồm 5 chương 27 điều với các nội dung chính sau:
 
- Quy định cụ thể phạm vi liên quan khu vực biên giới (khu vực biên giới, vành đai biên giới, vùng cấm).
 
- Quy định cụ thể về cư trú, đi lại, hoạt động trong khu vực biên giới.
 
- Quy định về quản lý, bảo vệ khu vực biên giới: Chính phủ thống nhất chỉ đạo các hoạt động quản lý, bảo vệ biên giới và duy trì trật tự an toàn xã hội ở khu vực biên giới; Bộ đội Biên phòng là lực lượng nòng cốt trong việc thực hiện quản lý, bảo vệ biên giới; Mọi công dân có trách nhiệm và nghĩa vụ bảo vệ biên giới quốc gia…
 
Nghị định số 32/2005/NĐ-CP về quy chế cửa khẩu biên giới đất liền
 
Nghị định số 32/2005/NĐ-CP về quy chế cửa khẩu biên giới đất liền được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành ngày 14/3/2005 bao gồm 6 chương 25 điều với các nội dung chính sau:
 
- Quy định về cửa khẩu biên giới đất liền (gồm cửa khẩu quốc tế, cửa khẩu chính, cửa khẩu phụ).
 
- Quy định về việc xuất, nhập đối với người, phương tiện, hàng hóa qua các cửa khẩu biên giới đất liền (quy định về giấy tờ, nơi tiến hành làm thủ tục).
 
- Việc quản lý các hoạt động ở khu vực cửa khẩu và trách nhiệm quản lý các hoạt động xuất, nhập qua cửa khẩu biên giới.
 
3. Các Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia giữa hai nước Việt Nam - Lào
 
Hiệp định về Quy chế biên giới quốc gia Việt Nam - Lào
 
Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia giữa nước CHXHCN Việt Nam và nước CHDCND Lào được hai bên ký kết ngày 01/3/1990 tại thành phố Hồ Chí Minh (Việt Nam). Đây là một văn bản pháp lý quốc tế chứa đựng đầy đủ các quy phạm pháp luật cơ bản cũng như các thủ tục cần thiết điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong các hoạt động của cả hai bên ở khu vực biên giới giữa hai nước.
 
Hiệp định được Hội đồng Nhà nước Việt Nam phê chuẩn ngày 05/5/1990, hai bên trao đổi thư phê chuẩn ngày 06/11/1990 và có hiệu lực từ tháng 6/1991.
Hiệp định gồm 5 chương 37 điều với các nội dung chính sau:
 
- Tôn trọng độc lập chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau; hợp tác quản lý bảo vệ biên giới, hệ thống mốc quốc giới; bảo vệ an ninh trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới; ngăn chặn và giải quyết kịp thời các vấn đề phát sinh trong quan hệ về biên giới lãnh thổ giữa chính quyền và nhân dân địa phương hai bên;
 
- Thống nhất nguyên tắc, thủ tục và địa điểm qua lại giữa hai quốc gia, giữa các địa phương và việc qua lại của các cư dân biên giới; xử lý các vấn đề có liên quan đến biên giới trên cơ sở tôn trọng lợi ích chính đáng của các bên và quan tâm tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân hai bên làm ăn sinh sống trong khu vực biên giới;
 
- Hợp tác phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội; hợp tác khai thác và bảo vệ nguồn nước, tài nguyên và môi trường ở khu vực biên giới.
 
Nghị định thư sửa đổi và bổ sung Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia Việt Nam - Lào
 
Thực hiện Hiệp định về quy chế biên giới, hàng năm hai nước Việt Nam - Lào đã luân phiên tổ chức các cuộc họp về biên giới do cơ quan Biên giới Trung ương hai nước chủ trì với sự có mặt của đại diện các Bộ, ngành liên quan và các tỉnh biên giới của hai nước để kiểm điểm việc thi hành Hiệp định, thống nhất giải quyết các vấn đề phát sinh mà các Bộ, ngành và địa phương hai bên chưa giải quyết được và các vấn đề cần tiếp tục hợp tác thực hiện trong thời gian tiếp theo. Trong quá trình tổ chức thực hiện, hai bên nhận thấy Hiệp định về quy chế biên giới cơ bản phù hợp với thực tế về quan hệ biên giới giữa hai nước, đã phát huy tác dụng trong công tác quản lý biên giới. Tuy nhiên, hai bên cũng đã phát hiện một số vấn đề nảy sinh chưa giải quyết được do Hiệp định còn có một số điểm chưa thật đầy đủ, rõ ràng, cần có sự bổ sung hoặc sửa đổi để phù hợp với sự phát triển tình hình chung của mối quan hệ biên giới giữa hai nước.
 
Thực hiện điểm a, Điều 35 của Hiệp định về Quy chế biên giới, ngày 31/8/1997, hai bên đã ký Nghị định thư sửa đổi và bổ sung một số điều khoản trong Hiệp định về quy chế biên giới quốc gia Việt Nam - Lào ký ngày 01/3/1990. Trong Nghị định thư đã ghi nhận sửa đổi, bổ sung 08 điều của Hiệp định. Các nội dung bổ sung này nhằm làm rõ hơn nội dung của các quy định trước đây hoặc bổ sung các quy định, thủ tục để tạo điều kiện quản lý đường biên giới, mốc quốc giới được tốt hơn, tạo điều kiện cho sự hợp tác toàn diện của hai bên phát triển đồng thời quản lý, bảo vệ an ninh biên giới được chặt chẽ phù hợp với tình hình kinh tế - xã hội chung của hai nước, tạo cơ sở pháp lý để thực hiện tốt hơn việc giải quyết vấn đề xâm canh, xâm cư và phối hợp giải quyết tốt hơn các vấn đề phát sinh trong quan hệ về biên giới lãnh thổ trên cơ sở tôn trọng chủ quyền, lợi ích chính đáng của nhau, phù hợp với điều kiện thực tế và hoàn cảnh của mỗi nước. Nghị định thư được Chính phủ hai nước phê duyệt và có hiệu lực từ ngày 02/7/1998.
 
4. Công tác tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào
 
Tình hình chung
 
Biên giới Việt Nam - Lào dài khoảng 2340 km tiếp giáp với 10 tỉnh của Việt Nam là: Điện Biên, Sơn La, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Quảng Nam và Kon Tum và tiếp giáp với 10 tỉnh của Lào là Phỏng Sả Lỳ, Luổng Pha Băng, Hủa Phăn, Bô Ly Khăm Xay, Khăm Muồn, Sạ Vắn Nạ Khệt, Sả Lạ Văn, Xiêng Khoảng, Sê Kông và Ắt Tạ Pư. Ngày 18/7/1977, ta và Lào đã ký Hiệp ước hoạch định biên giới và ngày 24/01/1986 ký Hiệp ước bổ sung Hiệp ước hoạch định.
 
Trong giai đoạn 1978 - 1987, hai bên đã cơ bản hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên thực địa, theo đó đã phân giới được khoảng 1877 km đường biên giới và cắm được 214 cột mốc. Kết quả đó được ghi nhận tại Nghị định thư về phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới ký ngày 24/01/1986, Nghị định thư bổ sung Nghị định thư về phân giới trên thực địa và cắm mốc quốc giới ký ngày 16/10/1987.  
 
Từ năm 1996 đến năm 2003, hai bên đã hoàn thành bộ bản đồ đường biên giới quốc gia Việt Nam - Lào tỷ lệ 1/50 000. Hai bên cũng đã giải quyết xong toàn bộ các tồn đọng về biên giới lãnh thổ vào năm 2008 và hiện đang thực hiện “Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào” - dự kiến hoàn thành vào năm 2014.
 
 
 Cột mốc biên giới 605 trên biên giới Việt Lào (Ảnh: TTX)
 
 
Tình hình thực hiện công tác tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào
 
Dự án tăng dày và tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào được hai Chính phủ phê duyệt và cho phép triển khai thực hiện từ năm 2008. Theo kế hoạch hai bên sẽ hoàn thành toàn bộ công tác cắm mốc trên thực địa vào tháng 6/2013 (tổng số 793 vị trí mốc tương ứng 835 cột mốc); sau đó sẽ triển khai công tác chỉnh lý bản đồ và soạn thảo văn kiện “Nghị định thư về đường biên giới và mốc quốc giới giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nước Cộng hòa dân chủ nhân dân Lào”; năm 2014 sẽ hoàn thành toàn bộ các văn kiện pháp lý ghi nhận kết quả cắm mốc (bao gồm cả kết quả phân giới trên thực địa trước đây).
 
Ngày 18/01/2008 Việt Nam và Lào đã cùng với Căm-pu-chia cắm mốc ngã ba biên giới và ngày 26/08/2008 tại Hà Nội, đã diễn ra Lễ ký Hiệp ước xác định giao điểm đường biên giới giữa ba nước. Ngày 05/09/2008, tại cửa khẩu Lao Bảo - Đen Sạ Vẳn, hai bên đã long trọng tổ chức Lễ khánh thành mốc đôi 605. Đây là cột mốc đầu tiên chính thức khởi động cho công tác tăng dày và tôn tạo mốc quốc giới giữa hai nước.
 
Công tác cắm mốc trên thực địa gặp một số khó khăn, cụ thể là:
 
- Nhiều mốc nằm ở vị trí có địa hình hết sức khó khăn, hiểm trở, núi cao, vực sâu, chưa có đường qua lại, xa khu dân cư; hơn nữa, thời tiết lại quá khắc
nghiệt, thất thường; nhiều mốc giới muốn xây dựng được phải mở đường tới hàng chục km (như ở Điện Biên, Nghệ An).
 
- Trong quá trình triển khai công tác trên thực địa, có nơi, có lúc hai bên còn có những nhận thức khác nhau về pháp lý, kỹ thuật và địa hình thể hiện trên bản đồ không phù hợp với địa hình thực địa. Việc này làm phát sinh thêm thời gian và công sức, kinh phí phục vụ các chuyến khảo sát đơn phương và song phương, ảnh hưởng không nhỏ tới tiến độ cắm mốc. Ví dụ :
 
+ Bản đồ không thể hiện chi tiết địa hình ngoài thực địa (do bản đồ có tỷ lệ nhỏ, kỹ thuật vẽ tổng hợp địa hình), trên bản đồ chỉ thể hiện một đỉnh núi, nhưng ngoài thực địa có hai ba đỉnh núi nhỏ, bản đồ không thể hiện chi tiết khe suối, khe cạn (mốc 251, 253…).
 
+ Lời văn trong Hiệp ước và Nghị định thư phân giới cắm mốc không phù hợp với địa hình ngoài thực địa (mốc 342, 441).
 
+ Có sự khác nhau giữa lời văn trong Hiệp ước, Nghị định thư phân giới cắm mốc, bản đồ và địa hình ngoài thực địa (mốc 38, 139…).
 
+  Mâu thuẫn giữa đường biên giới pháp lý và quản lý thực tế (khu vực mốc 206 - 207 và mốc 258).
 
Tuy nhiên, với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của Chính phủ hai nước, với sự phối hợp chặt chẽ và nỗ lực phấn đấu chung của các Bộ, ngành và địa phương liên quan của hai nước, đến nay, công tác tăng dày tôn tạo mốc giới trên thực địa đã cơ bản hoàn tất. Tính đến ngày 27/6/2013, hai bên đã xác định 792/793 vị trí tương ứng 834/835 cột mốc, xây dựng 791/793 vị trí tương ứng 833/835 cột mốc.
 
Hai bên dự kiến tổ chức Lễ chào mừng hoàn thành công tác cắm mốc biên giới Việt Nam - Lào trên thực địa tại cửa khẩu Thanh Thủy (Nghệ An) - Nậm Om (Bô-ly-khăm-xay) trong tháng 7/2013. Sau đó, hai bên sẽ khởi động ngay việc xây dựng các văn kiện pháp lý liên quan nhằm hoàn thành thắng lợi Dự án tăng dày, tôn tạo hệ thống mốc quốc giới Việt Nam - Lào vào năm 2014 theo đúng thời hạn mà lãnh đạo cấp cao hai nước đã thỏa thuận./.
 
(Biengioilanhtho)

Các tin, bài đã đưa